vanban.org

Bản án 482/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí tòa án. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với cáo Tr nh Th Thanh T; Bản án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Thị Thanh T và Võ Trần Anh M - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 482/2022/HS-PT
Ngày: 24-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Lê Tự

Ông Nguyễn Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh

Gia Lai, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số

417/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 đối với cáo Tr nh Th Thanh

T và Võ Trần Anh M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Không tố giác tội

phạm”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số

76/2022/HSST ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Trịnh Thị Thanh T, sinh năm 1983 tại Gia Lai; n i đăng ký HKTT và

chỗ ở: thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:

12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con

ông Tr nh H và à Đặng Th N; có chồng là Võ Trần Anh M và 01 con sinh năm

2012; tiền án, tiền sự: Không. B bắt theo lệnh truy nã ngày 19/01/2021. B cáo

hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; có mặt tại phiên

tòa.

2. Võ Trần Anh M, sinh năm 1977, tại Gia Lai; n i đăng ký HKTT và chỗ

ở: thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:

9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con

ông Võ Văn B và à Trần Th H; có vợ là Tr nh Th Thanh T và 01 sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; ngày 06/9/2021, b cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi n i cư trú. Hiện b cáo đang tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Thị Thanh T: Ông Hoàng Ngọc X –

Luật sư Văn phòng Luật sư B – Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Tr nh Th Thanh T là người không có nghề nghiệp ổn đ nh. Để có tiền

đánh ạc (bằng hình thức ch i số đề) và phục vụ nhu cầu chi tiêu cá nhân nên trong thời gian từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2020, T lợi dụng mối quan hệ quen biết, vay mượn trước đó với các hại và đã trả đầy đủ, sòng phẳng, tạo được uy tín, được các hại tin tưởng, T tiếp tục vay mượn và đưa ra thông tin gian dối về việc vay mượn tiền để làm ăn, hứa hẹn trả lãi suất cao làm cho các hại tin tưởng giao tiền cho T rồi chiếm đoạt tổng số tiền 1.906.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng) của 06 b hại, cụ thể như sau:

1. Hành vi chiếm đoạt của: Tạ Thị Thanh T (sinh năm 1983, trú tại: thành

phố P, tỉnh Gia Lai) với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Ch T và vợ chồng Tr nh Th Thanh T có quen iết với nhau từ trước nên

khi được T đặt vấn đề vay tiền để làm ăn và thỏa thuận lãi suất là 250.000đ/100.000.000đ/ngày (tư ng đư ng với 7,5%/tháng), T đồng ý cho T mượn 03 lần với tổng số 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và T chiếm đoạt, sau đó T bỏ trốn.

Khi làm đ n tố cáo, ch T giao nộp 03 Giấy mượn tiền đề các ngày

17/01/2019; 25/01/2019; 17/2/2019.

2. Hành vi chiếm đoạt của Nguyễn Hữu K (sinh năm: 1986, trú tại: thành

phố P, tỉnh Gia Lai) 559.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu đồng).

Anh K có quan hệ quen biết với từ trước và T đã nhiều lần vay tiền của anh

K đều trả tiền gốc, lãi đầy đủ.

Ngày 06/01/2020, Tr nh Th Thanh T đưa ra thông tin vay của anh K để

làm ăn, đáo hạn Ngân hàng và hứa hẹn trả lãi suất chênh lệch. Do tin tưởng nên anh K đã đưa cho T 620.000.000 đồng (sáu trăm hai mươi triệu đồng), trong đó 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hứa trả tiền lãi mỗi tháng là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)/tháng (tư ng đư ng lãi suất 5%/tháng), còn lại 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mư i triệu đồng) thỏa thuận trả góp tiền gốc và lãi mỗi ngày 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) trả trong vòng 04 tháng tư ng ứng số tiền sẽ phải trả 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng), trong đó 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng) tiền gốc và 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) tiền lãi. Tính đến ngày 27/3/2020, Tr nh Th Thanh T trả

cho anh K 61.000.000 đồng (sáu mươi mốt triệu đồng), còn lại số tiền

559.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu đồng) chiếm đoạt và ỏ đi

khỏi đ a phư ng. Khi làm đ n tố cáo, anh K giao nộp 01 Giấy mượn tiền đề ngày

06/01/2020.

3. Hành vi chiếm đoạt của: Võ Thị T (sinh năm: 1983, trú tại: thành phố

P, tỉnh Gia Lai) số tiền 195.000.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Ch Võ Th T quen biết vợ chồng T từ năm 2016 và T đã nhiều lần vay tiền

để làm ăn, với lãi suất thỏa thuận là 20.000 đồng/10.000.000đ/ngày (tư ng

đư ng 6%/tháng). Do tin tưởng nên Võ Th T đã cho T vay 195.000.000 đồng

(Một trăm chín mươi lăm triệu đồng), T chiếm đoạt và ỏ đi khỏi đ a phư ng,

không liên lạc được. Khi làm đ n tố cáo, ch T giao nộp 05 “Giấy mượn tiền”

đề các ngày 09/9/2019; 11/9/2019; 01/11/2019; 07/12/2019 và 24/01/2020.

4. Hành vi chiếm đoạt của: Phạm Thị Ánh T (sinh năm: 1973, trú tại: thành

phố P, tỉnh Gia Lai) số tiền 257.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu

đồng).

Ch T có quan hệ quen biết với vợ chồng T từ trước, nên khi T đưa ra thông

tin vay tiền để làm ăn với hình thức trả góp cả gốc và lãi, do tin tưởng nên ch T

đồng ý, cụ thể:

Ngày 24/9/2019, ch T đưa cho T vay 115.000.000 đồng (Một trăm mười

lăm triệu đồng), trả góp gốc và lãi là 2.000.000đ/ngày (Hai triệu đồng/ngày)

trong vòng 60 ngày, T viết thành giấy vay tiền số tiền 120.000.000 đồng (Một

trăm hai mươi triệu đồng), trong đó có 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền

lãi.

Ngày 01/11/2019 (Âm l ch), ch T đưa cho T vay 115.000.000 đồng (Một

trăm mười lăm triệu đồng), trả góp gốc và lãi là 2.000.000đ/ngày (Hai triệu

đồng/ngày) trong vòng 60 ngày, T viết thành giấy vay tiền số tiền

120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), trong đó có 5.000.000 đồng

(Năm triệu đồng) tiền lãi.

Ngày 29/12/2019 (Âm l ch), ch T cho Tr nh Th Thanh T vay số tiền

90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) hẹn trả trong vòng 30 ngày, lãi suất là

2.000.000đ/90.000.000đ/tháng.

Ngày 21/01/2020 (Âm l ch), ch T cho Tr nh Th Thanh T vay 20.000.000

đồng (Hai mươi triệu đồng) hẹn trả trong vòng 30 ngày, lãi suất là

400.000đ/20.000.000đ/tháng.

Tổng số tiền T vay là 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng),

tính đến ngày 25/3/2020, T đã trả cho ch T 83.000.000 đồng (Tám mươi ba

triệu đồng) còn lại 257.000.000đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu đồng) T chiếm đoạt và ỏ đi khỏi đ a phư ng. Khi làm đ n tố cáo ch T giao nộp 04 “Giấy mượn tiền” đề các ngày 24/9/2019; 01/11/2019; 29/12/2019; 21/01/2020.

5. Hành vi chiếm đoạt của Nguyễn Thị C (sinh năm: 1983, trú tại: thành

phố P, tỉnh Gia Lai) với số tiền 261.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu đồng).

Nguyễn Th C có quen iết với vợ chồng T từ đầu năm 2019, đến khoảng

tháng 6 năm 2019, T thường xuyên đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của C để làm ăn. Do đó, từ ngày 27/8/2019 đến ngày 17/12/2019, C đã nhiều lần cho vợ chồng M-T vay tiền và đã được trả lại tiền gốc và lãi đầy đủ. Ngày 17/12/2019, ch C với Tr nh Th Thanh T đối chiếu tiền nợ rồi viết lại Giấy mượn tiền đề ngày 17/12/2019 với số tiền: 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng), gồm: 310.000.000 đồng (Ba trăm mười triệu đồng) tiền gốc và 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền lãi, với thỏa thuận trả góp 3.000.000đ/ngày (Ba triệu đồng/ngày) trong thời hạn là 04 tháng. Đến ngày 24/01/2020, T mượn thêm 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), hẹn 04 tháng trả lại, ch C đồng ý chuyển 20.000.000 đồng (Hai mươi triêu đồng) vào tài khoản BIDV số 6200000092291 của T. Tổng số tiền thực tế ch C đã đưa cho T là 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Sau đó, T trả cho ch C 69.000.000 đồng (Sáu mươi chín triệu đồng), còn lại 261.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu đồng) T chiếm đoạt và ỏ đi khỏi đ a phư ng. Khi làm đ n tố cáo, ch C giao nộp 01 Giấy mượn tiền đề ngày 17/12/2019, với số tiền 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).

6. Hành vi chiếm đoạt của Lê M N (sinh năm 1983, trú thành phố P, tỉnh

Gia Lai) với số tiền là 334.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi bốn triệu đồng).

Lê M N có quen biết với vợ chồng Tr nh Th Thanh T và Võ Trần Anh M

vì N là ạn học của T. Đến khoảng tháng 03/2019, N cho T vay tiền và được Thuyên trả lại đây đủ. Từ ngày 13/9/2019 đên ngày 19/01/2020, do tin tưởng nên N tiếp tục cho vợ chồng T, M vay tổng số tiền 350.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 5%/tháng, cụ thể:

Ngày 13/9/2019, Lê M N cho T vay 220.000.000 đồng; T nhận tiền xong

thì viết Giấy mượn tiền đề ngày 13/9/2019 rồi cả 2 vợ chồng cùng ký Giấy đưa cho ông N cất giữ.

Ngày 06/01/2020, Lê M N cho T vay số tiền 80.000.000 đồng. Võ Trần

Anh M nhận tiền xong thì viết, ký Giấy mượn tiền đề ngày 06/01/2020 rồi đưa cho ông N giữ.

Ngày 19/01/2020, Lê M N cho T vay số tiền 50.000.000 đồng. Tr nh Th

Thanh T nhận tiền xong thì viết, ký Giấy mượn tiền đề ngày 19/01/2020 rồi đưa cho ông N giữ.

Sau khi vay tiền Tr nh Th Thanh T trả cho N 16.000.000 đồng, sau đó N

vào thành phố Hồ Chí M chữa bệnh nhưng do ảnh hưởng của d ch bệnh Covid

19 nên đến tháng 12/2021 mới biết Tr nh Th Thanh T đã C quan Cảnh sát

diều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố, tạm giam về tội Lừa đảo chiêm đoạt tài

sản, nên tìm gặp M đòi tiền nhưng không được nên ngày 24/12/2021, N đã làm

đ n tố giác và giao nộp 03 “Giấy mượn tiền” đề ngày 13/9/2019; 06/01/2020 và

19/01/2020. Đến ngày 19/01/2022, Võ Trần Anh M trả cho N 45.000.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền mà Tr nh Th Thanh T đã chiếm đoạt của 06 b hại là

1.906.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng).

Tại C quan điều tra Tr nh Th Thanh T khai nhận: Khoảng cuối năm

2018, T tham gia ch i đánh ạc bằng hình thức ghi số đề và thua cùng với

việc làm ăn thua lỗ trước đó dẫn đến nợ nần. Từ năm 2019, T đã lợi dụng các

mối quan hệ quen biết từ trước, chủ động đưa ra thông tin gian dối để vay tiền

của nhiều người khác (trong đó có 06 hại trong vụ án này) rồi sử dụng đánh

bạc bằng hình thức đánh số đề, xoay vòng trả nợ cho các cá nhân T vay mượn

trước đó và tiêu xài cá nhân.

Đến tháng 3 năm 2020, khi iết số tiền dư nợ ngày càng nhiều và các

chủ nợ liên tục đòi tiền trong khi không còn khả năng chi trả nên đã cùng chồng

đưa con đi đến phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dư ng

thuê nhà trọ, lẩn trốn cho đến khi b bắt.

Tr nh Th Thanh T thừa nhận các giấy mượn tiền do 06 cá nhân cung cấp

cho C quan Cảnh sát điều tra là do T viết khi vay tiền của họ. Tuy nhiên, trong

số tiền 2.135.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm ba mươi lăm triệu đồng) mà 06

hại tố giác, T đã nhiều lần trả lại và chỉ còn nợ số tiền khoảng 800.000.000 đồng

(Tám trăm triệu đồng), nhưng việc trả lại tiền này không có giấy tờ, tài liệu

chứng minh. Tuy nhiên, sau khi được đối chất Tr nh Th Thanh T thừa nhận số

tiền đã mượn của 06 b hại như các hại tố giác, đã trả được 229.000.000 đồng

(Hai trăm hai mươi chín triệu đồng), số tiền T chiếm đoạt và ỏ trốn là

1.906.000 đồng (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng).

Việc T vay tiền của 06 b hại mục đích làm gì thì Võ Trần Anh M không

biết, cho đến khi có yêu cầu của Võ Th T, Phạm Th Ánh T và Nguyễn Th C

để ký vào “Giấy mượn tiền” để đảm bảo việc trả nợ thì T mới đưa cho M ký vào

07 tờ “Giấy mượn tiền” như 04 cá nhân giao nộp. Đến khi mất khả năng trả nợ

thì T àn với M bỏ trốn khỏi đ a phư ng thì M đồng ý.

Đến tháng 8 năm 2020, khi hai vợ chồng M-T đang ỏ trốn thì ch Bùi

Th Thúy, Trưởng phòng kế hoạch, kinh doanh, Ngân hàng Nông nghiệp và phát

triển nông thôn, C nhánh P thông áo yêu cầu thanh toán tiền nợ tại Ngân hàng,

nên đã nhờ tìm người mua lại nhà và đất tại số 52A Ngô Thì Nhậm, phường Phù

Đổng, thành phố P, tỉnh Gia Lai để trả nợ gốc và lãi mà hai vợ chồng M, T đã thế chấp vay số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) vào ngày ngày 25/12/2019.

Ngày 25/8/2020, Tr nh Th Thanh T và Võ Trần Anh M làm hợp đồng

án nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại số 52A N, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho à Nguyễn Th Đ (sinh năm: 1980, trú tại: Tổ 06, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai) cùng chồng là Nguyễn Đăng Huỳnh với thoả thuận à Đ trả 5.000.000.000 đồng (Năm tỉ đồng) tiền gốc và 290.986.301 đồng (Hai trăm chín mươi triệu, chín trăm tám mươi sáu ngàn, ba trăm linh một đồng) tiền lãi để thanh lý hợp đồng tín dụng, rút tài sản thể chấp rồi ký hợp đồng công chứng sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng Huỳnh- Đ.

Võ Trần Anh M khai nhận: M mở ga-ra chăm sóc xe ô tô tại số 294 Lý

Thái Tổ, phường Yên Đỗ, thành phố P từ năm 2017 và có quan hệ quen biết với 05 b hại trong vụ án này từ trước. Do M thường xuyên ở trên tiệm rửa xe nên không iết được sự việc Tr nh Th Thanh T đặt vấn đề vay tiền của họ như thế nào cho đến khi được T nói ký xác nhận trong 07 giấy mượn tiền của 04 b hại nhằm đảm bảo việc trả nợ cho họ.

Tại các Kết luận giám đ nh số 659/KLGĐ ngày 17/9/2020; số 321/KLGĐ,

ngày 17/5/2021 và số 113/KLGĐ ngày 28/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai đối với chữ viết, chữ ký trên các “GIẤY MƯỢN TIỀN” đề các ngày 17/01/2019; 25/01/2019; 17/02/2019; 06/01/2020 (trừ dòng chữ viết “Nguyễn Hữu K”, “06 Ngô Thì Nhậm”, “Người cho mượn”) và dòng chữ “Lấy Ngày 12/12/2020 ÂL. Đóng ngày 13/12/2020 ÂL” phía mặt sau “GIẤY MƯỢN TIỀN”; 09/9/2019; 11/9/2019; 01/11/2019; 07/12/2019; 24/01/2020; 24/9/2019; 01/11/2019; 29/12/2019 (trừ chữ viết “30 Ng”); 21/01/2020 (trừ chữ viết “30 Ng”); 17/12/2019; 13/09/2019 và 19/01/2020 (trừ chữ viết có nội dung “N”, “90/74 Trường Chinh”) so với chữ viết, chữ ký của Tr nh Th Thanh T trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.

Chữ ký, chữ viết họ tên “Võ trần anh M” dưới mục “Người mượn tiền

(Ký, ghi rõ họ tên)” trên GIẤY MƯỢN TIỀN” đề các ngày 09/9/2019; 24/9/2019; 01/11/2019; 17/12/2019; 21/01/2020 so với chữ viết, chữ ký của Võ Trần Anh M trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Chữ viết, chữ ký trên “GIẤY MƯỢN TIỀN” đề ngày 06/01/2020 (trừ chữ viết có nội dung “N”, “90/74 Trường Chinh”) và chữ viết chữ ký “Võ trần anh M” dưới mục “Người mượn tiền” GIẤY MƯỢN TIỀN” đề ngày 13/9/2019 so với chữ viết của Võ Trần Anh M trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.

Tại B n án h nh sự sơ thẩm s 76/2022/HS-ST ngày 23/8/2022 của Tòa

án nhân dân tỉnh Gia Lai đ uy t đ nh:

1. Về tội danh:

Tuyên ố b cáo Tr nh Th Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài

sản”.

Tuyên ố b cáo Võ Trần Anh M phạm tội “Không tố giác tội phạm”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1 Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt b cáo Tr nh Th Thanh T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tính từ ngày 19/01/2021.

2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều

38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt b cáo Võ Trần Anh M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

b cáo chấp hành án.

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự,

phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 29/8/2022, cáo Tr nh Th Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Ngày 26/8/2022, cáo Võ Trần Anh M kháng cáo xin được hưởng án

treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

B cáo Tr nh Th Thanh T rút toàn ộ kháng cáo và xin cho chồng là

cáo Võ Trần Anh M được hưởng án treo. B cáo M giữ nguyên yêu cầu kháng

cáo xin được hưởng án treo.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

phát iểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau: Các cáo T, M kháng cáo

hợp lệ; đối với b cáo T đã rút toàn ộ kháng cáo đề ngh đình chỉ xét xử đối với

b cáo T; đối với b cáo Võ Trần Anh M đủ điều kiện được hưởng án treo; do đó

đề ngh sửa Bản án s thẩm cho b cáo Võ Trần Anh M được hưởng án treo,

giao b cáo cho đ a phư ng giám sát giáo dục.

Người ào chữa cho b cáo T: Đề ngh đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với

b cáo T.

B cáo M: Hoàn cảnh gia đình khó khăn cha mẹ già yếu bệnh tật con còn

nhỏ, vợ b cáo đi tù đề ngh cho b cáo được hưởng án treo để chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm cáo Tr nh Th Thanh T đã rút toàn ộ

kháng cáo, căn cứ vào quy đ nh tại Điều 348 BLTTHS, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với cáo T, Bản án s thẩm có hiệu lực pháp luật đối với cáo T.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo Võ Trần Anh M,

thấy:

Về hành vi phạm tội và tội danh của cáo: Căn cứ vào lời khai

nhận tội có tại hồ s vụ án và tại phiên tòa của cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ s vụ án có c sở xác đinh: Từ ngày 17/9/2019, đến ngày 24/01/2020, b cáo Trinh Th Thanh T (là vợ của b cáo M) không kinh doanh uôn án gì nhưng đưa ra thông tin gian dối vay tiền để làm ăn của 06 người b hại chiếm đoạt tổng số tiền 1.906.000.000 đồng; b cáo Võ Trần Anh M không iết và không tham gia vào việc mư n tiền của b cáo T đối với các hại, nhưng tháng 3/2020 khi iết b cáo T không còn khả năng trả nợ cho các hại, b cáo M đã đồng ý với b cáo T bỏ trốn. Tòa án s thẩm đã xét xử b cáo Võ Trần Anh M về tội “Không tố giác tội phạm” là có căn cứ và đúng pháp luật.

B cáo Võ Trần Anh M phạm tội thuộc trường hợp quy đ nh tại

khoản 1 Điều 390 BLHS có khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù. Khi quyết đ nh hình phạt Tòa án cấp s thẩm đã xử phạt b cáo b cáo M mức án 6 tháng tù là không nặng. Tuy nhiên, xét thấy cáo M có nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình tố tụng thật thà khai áo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; gia đình cáo khó khăn, cáo M và cáo T là hai vợ chồng có một con chung sinh năm 2012 và đang nuôi dưỡng, quy đ nh tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, cáo M có n i cư trú rõ ràng và có đủ điều kiện được hưởng án treo; do đó chấp nhận kháng cáo của cáo M và đề ngh của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sửa ản án s thẩm cho cáo M được hưởng án treo và giao cáo cho chính quyền đ a phư ng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm về trách nhiệm ồi thường

dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí dân sự và hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

B cáo T và cáo M không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo

quy đ nh của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1

Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với cáo Tr nh Th Thanh T; Bản án

hình sự s thẩm số 76/2022/HS-ST ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh

Gia Lai đối với cáo Tr nh Th Thanh T có hiệu lực pháp luật.

2. Chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Trần Anh M sửa Bản án hình sự s

thẩm số 76/2022/HS-ST ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai như

sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65

Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt b cáo Võ Trần Anh M 06 (sáu) tháng tù về tội “Không tố giác tội

phạm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng

tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 24/11/2022).

Giao cáo Võ Trần Anh M cho Ủy an nhân dân phường Phù Đổng,

thành phố P, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường

hợp cáo M thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy đ nh của pháp luật về thi

hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi

phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh uộc người được hưởng

án treo phải chấp hành hình phạt tù của ản án đã cho hưởng án treo.

3. Các quyết đ nh khác của ản án hình sự s thẩm số 76/2022/HS-ST

ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về trách nhiệm ồi thường dân

sự, về xử lý vật chứng, về án phí hình sự và dân sự s thẩm không có kháng cáo,

kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

ngh .

4. Về án phí: B cáo Tr nh Th Thanh T và cáo Võ Trần Anh M không

phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ