vanban.org

Bản án 482/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Th 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Thân - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 482/2020/HSST
Ngày: 29/10/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Ông Lê Văn Ninh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Huyền- Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 484/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 498/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2020 đối với:

Bị cáo Lƣơng Văn Th, sinh ngày 08/4/1980

ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm AR 2, xã KM, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lương Văn L, sinh năm 1925 (đã chết) và con bà Phạm Thị H, sinh năm 1932; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tám; Có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2003 con nhỏ sinh năm 2005.

- Tiền án: Tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 14/4/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Lương Văn Th 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 06/11/2018

- Tiền sự, nhân Th: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2020 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

*Ngƣời chứng kiến: Ông Vũ Quốc Tuấn, sinh năm 1962

Địa chỉ: Tổ 6, phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 6 giờ 55 phút ngày 20/8/2020 tæ c«ng t¸c C«ng an phường HVT, thành phố TN ®ang lµm nhiÖm vụ tại khu vực tổ 8 của phường, phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý, tổ công tác tiến hành kiểm tra. Người đàn ông tự khai tên là Lương Văn Th. Th tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột trắng (theo Th khai là Heroine) tại bàn tay phải. Tæ c«ng t¸c ®· tiÕn hµnh niªm phong vËt chøng vµ lËp biªn bản bắt người cã hµnh vi ph¹m téi qu¶ tang.

Cùng ngày, cơ quan Công an đã tiến hành cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng, thu giữ của Lương Văn Th có trọng lượng 0,067 gam, và lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu T1.

Tại bản kết quả giám định số 1102/KL- KTHS ngày 28/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,067 gam.

T¹i c¬ quan ®iÒu tra, Lương Văn Th khai nhËn: Khoảng 05 giờ ngày 20/8/2020, Th từ nhà ra khu vực cầu Gia Bẩy, thành phố Thái Nguyên mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi Th gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy, với giá 50.000 đồng, Th cầm số ma túy vừa mua được ở tay phải đi về đến khu vực tổ 8, phường HVT, thành phố TN thì bị phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai nhận tội của Lương Văn Th phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

VËt chøng cña vô ¸n: 01 bì niêm phong ký hiệu T1. Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 490/CT-VKSTPTN ngày 10/10/2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Lương Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn Th khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Th từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Xét nhân Th và điều kiện kinh tế của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình T1 bên trong chứa ma túy.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến cũng không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 6 giờ 55 phút ngày 20/8/2020 tại tổ 8, phường HVT, thành phố TN, Lương Văn Th đang có hành vi tàng trữ 0,067 gam Heroine để sử dụng cho bản Th thì bị tổ công tác của Công an phường HVT, thành phố TN phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo đã biết ma túy là chất cấm, được Nhà quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân với khối lượng 0,067 Heroine. Xét thấy, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ dưới 0,1gam tuy nhiên bị cáo đang có 01 tiền án tại bản án số 112/2017/HSST ngày 14/4/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc đã bị kết án về tội này.....chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người lương thiện. Hơn nữa bị cáo là người có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội, điều đó chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật kém. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo thấy được sự nghiêm khắc của pháp luật, biết tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người lương thiện.

Với nhân thân như vậy, mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo khai là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa ma túy.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Văn Th 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ theo Lương Văn Th khai mua của 01 người đàn ông không quen biết ở khu vực đầu cầu Gia Bẩy, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Th 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp ngăn chăn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Lương Văn Th 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1, bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói, mặt sau bì niêm phong có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký ghi họ tên Trương Đăng T và Lý Văn T.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 13 ngày 07/10/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ