vanban.org

Bản án 482/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lý Thị Thu H yêu cầu ly hôn với Anh Nguyễn Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 482/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 21-12-2018
V/v: Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức.

2. Ông Võ Thái Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Ngày 21 tháng 12 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2018/TLST-HNGĐ ngày 02

tháng 10 năm 2018 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con khi ly

hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12

tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị Thu H, sinh năm 1984. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hòa B, Đội I, xã Tịnh Th, huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1979. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 02, ấp Hưng Th 1, xã Phú H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 26 tháng 9 năm 2018 nguyên đơn chị Lý Thị Thu H

trình bày:

Sau thời gian tìm hiểu nhau về tình cảm, chị với anh Nguyễn Ngọc Đ quyết

định tiến tới hôn nhân, thành vợ chồng vào năm 2003. Chung sống đến năm 2006

thì đăng ký kết hôn và được UBND xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 128/2006 ngày 16/11/2006. Thời gian đầu vợ

chồng chung sống có hạnh phúc đến năm 2014, thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh Đ lo nhậu nhẹt không quan tâm đến chị, nhận thấy cuộc sống không còn hạnh phúc nên chị đã bỏ đi không sống chung với anh Đ nữa.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lý Như Ý, sinh ngày

13/12/2007 hiện đang do chị nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không có.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Đ và được

quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng cho con. Ngoài ra chị còn có yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa do bận làm ăn xa.

Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc Đ đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ

án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

cho chị được ly hôn với anh Đ và được quyền tiếp tục nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đ với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi

cư trú tại ấp Hưng Th 1, xã Phú H, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị H có yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử

vắng mặt chị là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại

phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Anh Đ với chị H chung sống với nhau từ năm 2003 đến

năm 2006 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng cấp Giấy

chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận. Xét thấy,

năm 2014 vì mâu thuẫn gia đình mà chị H đã bỏ đi, vợ chồng không còn chung

sống cho đến nay, cả hai đều không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau cho thấy

đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào

tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân

không đạt được. Vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy

định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên chấp

nhận.

Quan hệ con chung: Chị H xác định chị với anh Đ có 01 đứa con chung tên

Nguyễn Lý Như Ý, sinh ngày 13/12/2007 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Xét thấy,

cháu Như Ý đã sống chung với chị H kể từ khi vợ chồng không còn chung sống

với nhau, dưới sự chăm sóc, giáo dục của chị, cháu Như Ý đang sinh sống ổn định

và phát triển bình thường cho thấy chị H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom,

chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, nghĩ nên áp dụng khoản 3 Điều 81 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục giao cháu Như Ý cho chị H nuôi dưỡng.

Anh Đ được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không có nên

HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là

300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí

mà anh đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số

0016921 ngày 27/9/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4

Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1; Điều 271; Điều

273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Thị Thu H được ly hôn với

anh Nguyễn Ngọc Đ

2. Về con chung: Chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lý

Như Ý, sinh ngày 13/12/2007. Anh Đ được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.

3. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là

300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016921 ngày 27/9/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ