vanban.org

Bản án 48/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 11/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá T, Trần Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt: Bị cáo Trần Đức D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 10/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá T, Trần Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48 /2020/HS-ST
Ngày 11/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Thu

- Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Trần Đức Lưu

2 – Ông Đào Văn Nghiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Tp Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/TLHS-ST ngày 16/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐXXST-HS ngày 24/04/2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bá T - sinh năm 1992; HKTT Số 9 ngách 38/21 Ngô Sỹ Liên, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá Trương và bà Lê Thị Luân; Tiền án, tiền sự: không; DCB số 11 ngày 02/01/2020 tại công an quận Đống Đa; Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam theo lệnh giam của Tòa án nhân dân quận Đống Đa; - Có mặt tại phiên tòa;

2. Trần Đức D- sinh năm 1979; HKTT số 13 ngõ 61/79 Cầu Giấy, tổ 1 Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đức Nhàn và bà Nguyễn Thị Lợi; có vợ là Nguyễn Hà Thu và 03 con sinh năm 2003, 2012 và 2014; Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự năm 2008 đi cai nghiện bắt buộc, xác định đã ngoài thời hiệu; DCB số 13 ngày 12/12/2019 tại công an quận Ba Đình; Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/12/2019; - Có mặt tại phiên tòa;

* Người bị hại: Chị Nguyễn Thanh Vân

- Sinh năm: 1974; HKTT: số 178 Phan Kế Bính, phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội; (vắng mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vµo kho¶ng 12h00’ ngµy 10/12/2019, do cần tiền chi tiêu, Nguyễn Bá T đã gọi điện rủ Trần Đức D đi trộm cắp. Khoảng 14h00’ cùng ngày, Thành ®iÒu khiÓn xe m¸y nh·n hiÖu Dream, mµu n©u (không x¸c ®Þnh BKS) chë Trần Đức D®i tõ nhµ Dòng ë sè 13 ng¸ch 61 ngâ 79 CÇu GiÊy, P.Yªn Hßa, CÇu GiÊy, Hµ Néi ®Õn phố Nguyễn Văn Ngọc - Đào Tấn - Linh Lang, sau đó, rẽ ra phè Phan KÕ BÝnh kéo dài,. Khi c¶ hai ®i qua khu vùc trước cöa sè nhµ 178 phè Phan KÕ BÝnh, P.Cèng VÞ, Ba §×nh, Hµ Néi th× ph¸t hiÖn 01 chiÕc xe m¸y nh·n hiÖu Honda SH, mµu tr¾ng, BKS: 29B1-479.69 cña chị NguyÔn Thanh V©n, ®ang dùng trước cöa nhµ, vuông góc lòng đường Phan Kế Bính, đầu xe hướng vào số nhà 178 Phan Kế Bình, đuôi xe hướng ra lòng đường, xe dựng chân chống phụ. Thµnh ph¸t hiÖn ch×a khãa xe vÉn ®ang c¾m t¹i æ khãa ®iÖn, kh«ng cã người tr«ng gi÷. Thµnh nói với Dòng: “Cã xe SH c¾m ch×a khãa, anh xuèng d¾t ®i”. Dòng hiÓu ý Thµnh lµ đi trém c¾p chiÕc xe m¸y trªn nên ®ång ý. Thµnh dõng xe m¸y trước cöa nhµ sè 178 Phan KÕ B×nh, Dòng xuèng xe ®i bé tiÕn gÇn l¹i chiÕc xe 29B1-479.69, dïng tay phải më khãa ®iÖn, g¹t ch©n chèng phô, chuẩn bị d¾t lïi xe, đang định nổ máy xe đi th× bÞ anh NguyÔn Quang S¬n ph¸t hiÖn, h« ho¸n cùng mọi người đuổi bắt giữ Dòng. D vøt chiÕc xe 29B1-479.69 lại, lµm xe ng· ®æ ra đường vµ bá ch¹y khoảng 10m thì bắt giữ. Thµnh khi thÊy bÞ ph¸t hiÖn nªn ®· ®iÒu khiÓn xe m¸y theo hướng đường Bưởi ra đường Hoàng Quốc Việt tÈu tho¸t (BL: 65-82;95-122;125-126;139-148).

Vật chứng thu giữ của Trần Đức Dgồm (BL: 93): 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH màu trắng, BKS: 29B1-47969, số khung: 069829; số máy: 0069768; 01 chùm chìa khoá; 01 ĐTDĐ Nokia 106 màu đen.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 97 ngày 14.12.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Ba Đình, kết luận: 01 chiếc xe m¸y nh·n hiÖu Honda SH, mµu tr¾ng, BKS: 29B1-479.69 gi¸ trÞ: 40.000.000đồng (Bèn mươi triÖu ®ång) (BL:39)

Ngày 02/01/2020, Nguyễn Bá T bị bắt giữ trong vụ án Trộm cắp tài sản khác trên địa bàn quận Đống Đa (BL: 31-33)

T¹i c¬ quan ®iÒu tra, Trần Đức D khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai Nguyễn Bá T, phù hợp lời khai người làm chứng, người bị hại, sơ đồ hiện trường, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy nh·n hiÖu Honda SH, mµu tr¾ng, BKS: 29B1-479.69 cùng 01 chùm chìa khoá cho chị NguyÔn Thanh V©n. Chị Vân đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác về dân sự (BL: 43-44; 129-143)

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 10/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, bị cáo Nguyễn Bá T và Trần Đức D bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 , Điều 47 BLHS.

Vì vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, Thành giữ vai trò khởi xường, D là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Đề nghị HĐXX Xử phạt: - Các bị cáo Nguyễn Bá T và Trần Đức D từ 24 đến 30 tháng tù; Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền.

Về vật chứng: tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại đi động Nokia thu giữ của D vì có liên quan đến vụ án.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, các bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại và các biên bản tài liệu khác có trong hồ sơ, đấy đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 14h ngày 10/12/2019 tại số 178 phố Phan Kế Bính, phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ tài sản, các bị cáo Nguyễn Bá T và Trần Đức D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu trắng, BKS 29B1-479.69 có trị giá 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) của chị Nguyễn Thanh Vân với mục đích bán kiếm lời. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu người khác, gây mất trật tự ổn định xã hội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Bá T trong vụ án này nhân thân chưa có tiền án tiền sự, nhưng ngay sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn và lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn quận Đống Đa vào ngày 02/01/2020. Thể hiện bị cáo Thành coi thường pháp luật, liên tục thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân nên cần thiết phải xét xử bị cáo mức án tù giam nghiêm khắc.

Bị cáo Trần Đức Dcó 01 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc năm 2008, tính đến nay đã hết thời hiệu.

. Trong vụ án này có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo Thành là người khởi xướng và đứng cảnh giới để bị cáo D trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện và bị cáo D bị bắt giữ, bị cáo Thành đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Do đó bị cáo Thành cần phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo D .

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Về hình phạt bổ sung: Tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên tòa không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại đi động Nokia thu giữ của D vì có liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Căn cứ Điều 299, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá T, Trần Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 10/12/2019.

Về vật chứng: tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 106 màu đen; Imei 352882109689823, số sim 0934697962. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản giao nhận vật chứng số 71 ngày 11/3/2020.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ