vanban.org

Bản án 48/2026/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Bảo A phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bảo A tù chung thân. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590, 591 Bộ luật dân sự, Điều 48 Bộ luật hình sự: Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường chi phí viện phí, mai táng, tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng cho 03 con của bị hại N1, do đại diện của bị hại là ông Lê Văn L và bà Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Van P - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Bảo A phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2026/HS-ST
Ngày: 22 -04-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Tuấn Anh

Bà Kiều Thị Kim Dung

Bà Huỳnh Ngọc Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đoàn Trung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2026/TLST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2026 theo định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:

Đỗ Bảo A, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1999, tại tỉnh An Giang; Nơi thường trú: Tổ B, khóm L, phường L, tỉnh An Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Cao đài; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Đỗ Mã G, sinh năm: 1961 (sống) và bà Trương Thị Kiều N, sinh năm: 1971 (sống); Vợ là Võ Thị Hồng V, sinh năm: 2000 (không còn sống chung với nhau) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Đỗ Bảo A đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đỗ Bảo A: Ông Hồ Văn Đ – Văn phòng Luật sư Võ Anh T - Đoàn luật sư tỉnh T.

Bị hại: Bà Lê Thị Kim N1, sinh năm 1998 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn L, sinh năm 1964 và bà Trần Thị N2 sinh năm 1964, địa chỉ: ấp P, xã V, tỉnh An Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8 năm 2024, bị cáo Đỗ Bảo A quen biết và có tình cảm với bị hại Lê Thị Kim N1, sau đó cả hai cùng đến tỉnh Đồng Nai thuê nhà trọ sống chung với nhau được khoảng 04 tháng thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi. Bị hại N1 bỏ đi thuê Phòng trọ số 42, nhà T, thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) do ông Nguyễn Công B làm chủ để ở đi làm công nhân, còn bị cáo Bảo A đi về nhà tại tỉnh An Giang sinh sống.

Ngày 20/10/2025, bị cáo Bảo A đi đến xã Đ, tỉnh Tây Ninh tìm việc làm, do không có tiền nên bị cáo Bảo A ngủ ở quán cà phê võng ven đường và hàng ngày, bị cáo Bảo A đều gặp bị hại N1 ngoài đường khi N1 đi làm. Sáng ngày 29/10/2025, bị hại N1 gặp bị cáo Bảo A thấy quần áo của bị cáo Bảo A bị ướt do trời mưa nên bị hại N1 kêu Bảo A về phòng của N1 để nghỉ; đến chiều cùng ngày, bị cáo Bảo A đi vào phòng trọ số 42 của bị hại N1 tiếp tục sống chung với nhau.

Ngày 30/10/2025, bị hại N1 bị bệnh không đi làm. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn P ở chung nhà trọ T1 với bị hại N1 tổ chức uống rượu tại phòng trọ số 91 và rủ bị hại N1 tham gia. Bị hại N1 uống rượu đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ về phòng trọ số 42 nằm võng. Lúc này, bị hại N1 và bị cáo Bảo A xảy ra mâu thuẫn cự cãi, bị cáo Bảo A tức giận và nghi ngờ bị hại N1 có quan hệ tình cảm với người khác, không sống chung với nhau nữa nên bị cáo Bảo A đi đến bên hông phải của bị hại N1 đưa chân phải qua võng đứng ngang bụng bị hại N1 kẹp chặt tay trái của N1 xuôi theo thân người, còn chân trái kẹp sát vào hông phải của N1. Bị cáo Bảo A khom người xuống dùng hai tay bóp mạnh vào cổ bị hại N1. Ngân vùng vẫy, dùng tay phải cào vào hai bên cổ và ngực của Bảo A. Bị cáo Bảo A bóp cổ và đè đầu bị hại N1 rơi từ trên võng xuống nền nhà khoảng 10 phút thì Bảo A buông tay ra thấy N1 còn phát ra tiếng “khẹt, khẹt”. Bị cáo Bảo A tiếp tục dùng tay phải bóp mạnh cổ bị hại N1 khoảng 05 phút nữa thì buông tay ra, rồi dùng tay trái bóp cổ bị hại N1 khoảng 05 phút thấy N1 không còn cử động và biết đã chết. Bị cáo Bảo A tháo võng để sang một bên cạnh cửa ra vào, rồi lấy bó hoa hồng để lên ngực của bị hại N1. Sau đó, Bảo A lấy áo khoác màu đen trùm lên đầu N1 và lấy mền đắp kín người của N1 lại. Bị cáo Bảo A nằm trong phòng số 42 ngủ đến khoảng 05 giờ 05 phút ngày 31/10/2025, bị cáo Bảo A mặc quần áo vào đi ra dùng ổ khóa mốc cửa phòng trọ lại, rồi đi bộ ra cầu A định nhảy cầu tự tử nhưng không thực hiện. Bị cáo Bảo A đi đến cổng Khu công nghiệp T thuê xe ô tô biển số 62A-485.62 do Nguyễn Trọng H điều khiển chở bị cáo Bảo A về nhà tại Tổ B, khóm L, phường L, tỉnh An Giang. Về đến nhà, bị cáo Bảo A nói cho mẹ ruột là bà Trương Thị Kiều N biết đã giết N1 chết nên bà N kêu Bảo A đi đến Công an tự thú. Đến 19 giờ ngày 31/10/2025, Bảo A đến Công an xã Đ, tỉnh Tây Ninh tự thú hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định tử thi số 05 ngày 13/01/2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Lê Thị Kim N1 đã kết luận như sau:

Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm: Mặt tím, mũi miệng nhiều dịch bọt. Sung huyết giác mạc; Bầm tụ máu vùng chẩm và dưới da vùng chẩm. Não xung huyết; Vùng cổ có nhiều vết trầy xước. Bầm tụ máu dưới da và trong cơ vùng cổ hai bên. Lòng khí quản có nhiều dịch bọt; Sây sát da vùng lưng giữa và bên trái; Hai phổi sung huyết, không dập. Tim sung huyết, không dập vỡ; Bầm tụ máu dưới da bụng, bầm tụ máu mạc nối lớn. Các tạng trong ổ bụng sung huyết, không dập vỡ;

Kết quả xét nghiệm mô bệnh học.: Trầy da kèm tụ máu dưới da; Tụ máu mô kẽ và mô mỡ cạnh cơ; Tụ máu mô kẽ cạnh động mạch; Thiếu oxy não cấp; Phù phổi chảy máu; Gan thoái hóa mỡ rải rác; Thoái hóa niêm mạc dạ dày; Tử cung không có thai; Nang mang trứng; Các tạng xung huyết.

Kết quả xét nghiệm độc chất: Mẫu máu và chất chứa dạ dày không tìm thấy các chất được phân tích trong bản Kết luận giám định độc chất số 782/2025/KLGĐ ĐC-PY.CS1 ngày 17/11/2025 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố H; Mẫu chất chứa trong dạ dày: Định tính C và P1: Âm tính; Mẫu máu làm giám định nồng độ cồn: Nồng độ Ethanol: 161,37 mg/100ml.

2.Kết luận nguyên nhân chết: Ngạt cơ học.

Kết luận khác: Trong mẫu máu toàn phần của nạn nhân nồng động Ethanol 161,37/100ml.

Tại Kết luận giám định số 5376 ngày 16/12/2025 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận như sau: Phân tích được 01 kiểu gen ADN nam giới trên mẫu móng tay của Lê Thị Kim N1 trùng với kiểu gen của Đỗ Bảo A; Không phát hiện thấy ADN của Lê Thị Kim N1 trên mẫu móng tay của Đỗ Bảo A, chiếc quần jean và áo khoác của Đỗ Bảo A.

Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: 01 quần Jean dài màu xan, 01 áo khoác vải màu đen, hai bên tay áo có màu đỏ - đen, 01 mền vải caro có nhiều màu, kích thước (1,7 x 02) m, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ trùm đầu, trên ngực áo bên trái có in chữ “MicKey mouse”, cổ áo có dây rút vải màu trắng, 01 bó hoa vải màu hồng, bên trong có 05 bông hoa hồng và 01 bông hoa màu trắng, 01 võng vải nilon sọc nhiều màu.

Về dân sự: Ông Lê Văn L và bà Trần Thị N2 là người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Kim N1 yêu cầu Đỗ Bảo A bồi thường tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và tiền nuôi dưỡng 03 người con của N1 (Nguyễn Hoàng V1, sinh năm 2019; An Thị Bảo A1, sinh năm 2023; An Thị Bảo H1, sinh năm 2024) với tổng số tiền 271.000.000 đồng. Bảo A1 chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSTN-P2 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử bị cáo Đỗ Bảo A về tội “Giết người” quy định tại điểm n, q khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Bảo A thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung trạng truy tố và khai nhận ý thực chủ quan của bị cáo là do ghen tuông mù quán nên bị cáo muốn tước đoạt mạng sống của bị hại rồi tự sát.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm luận tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án, do đó bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTN-P2 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử bị cáo Đỗ Bảo A về tội “Giết người” quy định tại điểm n, q khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Tự thú hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng theo điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Bảo A phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n, q khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Bảo A tù chung thân.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại tiền viện phí, ma chay, tổn thất tinh thần và cấp dưỡng cho 03 con của chị N1 là 271.000.000đ.

Đề nghị Hội đồng xét xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo khoác vải màu đen, hai bên tay áo có màu đỏ - đen, 01 mền vải caro có nhiều màu, kích thước (1,7 x 02) m, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ trùm đầu, trên ngực áo bên trái có in chữ “MicKey mouse”, cổ áo có dây rút vải màu trắng, 01 bó hoa vải màu hồng, bên trong có 05 bông hoa hồng và 01 bông hoa màu trắng, 01 võng vải nilon sọc nhiều màu.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Luật sư thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội tự thú, bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do ghen tuông mù quáng, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 30/10/2025 tại phòng trọ số D nhà T thuộc ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh bị cáo bóp cổ chị N1 nhiều lần dẫn đến tử vong, do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n, q khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của Đỗ Bảo A là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ, cụ thể bị cáo đã tước đoạt mạng sống của chị N1, gây ra sự mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân mà không lấy gì bù đắp được. Do bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên đối với bị cáo cần cách ly khỏi xã hội một thời gian dài nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội như quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa.

Khi lượng hình cần xem xét, đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để tuyên mức án tương xứng với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Bị cáo Bảo A cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo tự thú, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có học văn hóa, phải nuôi 03 con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình. [4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí viện phí, mai táng và tổ thất tinh thần, tiền nuôi dưỡng 03 người con của chị N1 tổng cộng 271.000.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại nên ghi nhận.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo khoác vải màu đen, hai bên tay áo có màu đỏ - đen, 01 mền vải caro có nhiều màu, kích thước (1,7 x 02) m, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ trùm đầu, trên ngực áo bên trái có in chữ “MicKey mouse”, cổ áo có dây rút vải màu trắng, 01 bó hoa vải màu hồng, bên trong có 05 bông hoa hồng và 01 bông hoa màu trắng, 01 võng vải nilon sọc nhiều màu.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Bảo A phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n, q khoản 1 Điều 123; điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bảo A tù chung thân.

Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Bảo A 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590, 591 Bộ luật dân sự, Điều 48 Bộ luật hình sự: Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường chi phí viện phí, mai táng, tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng cho 03 con của bị hại N1, do đại diện của bị hại là ông Lê Văn L và bà Trần Thị N2 nhận 271.000.000đ (hai trăm bảy mươi mốt triệu đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật dân sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo khoác vải màu đen, hai bên tay áo có màu đỏ - đen, 01 mền vải caro có nhiều màu, kích thước (1,7 x 02) m, 01 áo khoác vải màu đen, có mũ trùm đầu, trên ngực áo bên trái có in chữ “MicKey mouse”, cổ áo có dây rút vải màu trắng, 01 bó hoa vải màu hồng, bên trong có 05 bông hoa hồng và 01 bông hoa màu trắng, 01 võng vải nilon sọc nhiều màu.

Các vật chứng trên do Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 03 năm 2026.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đỗ Bảo A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.550.000đ (mười ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo, đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 6, 7 và 9 Luật hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật hành án dân sự./.

Cỡ chữ