vanban.org

Bản án 48/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Việt D phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt D - chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2026/HS-ST
Ngày 12 – 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình

Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Việt D, sinh ngày 23/9/1993; nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Hoa H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 07/02/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Việt D; ngày 07/02/2014, Nguyễn Việt D chấp hành xong thời gian cai nghiện.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2025 đến nay (có mặt).

- Người chứng kiến: Ông Lăng Văn C1, sinh năm 1964 (vắng mặt). Nơi cư trú: Thôn N, xã T, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Việt D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2011. D tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thay thế bằng thuốc Methadone tại Cơ sở điều trị M - Trung tâm y tế K, tỉnh Phú Thọ từ ngày 05/5/2023; từ tháng 5/2023 đến đầu tháng 10/2025, D tham gia điều trị đúng quy định. Tuy nhiên, từ ngày 08/10/2025, D tự ý chấm dứt không tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm y tế K. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 13/12/2025, D nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đến khu vực thành phố V cũ gặp và mua 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000đồng của một người đàn ông không quen biết. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, D mang số ma túy vừa mua được đến khu vực nghĩa trang thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ sử dụng hết số ma túy này bằng hình thức pha chế ma túy cho vào xilanh chích trực tiếp vào cơ thể (dụng cụ sử dụng ma túy D đã vứt bỏ không nhớ vị trí). Đến 08 giờ 50 phút ngày 15/12/2025, Công an xã T D đến trụ sở làm việc để cảm hoá, giáo dục đồng thời phối hợp với Trạm y tế Đ, xã T tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma tuý có trong cơ thể đối với D, kết quả xét nghiệm nhanh cho thấy mẫu nước tiểu của D dương tính với chất ma tuý Heroin. Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của D để phục vụ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 3837/KL-KTHS ngày 17/12/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Việt D, SN: 1993, HKTT: Thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ gửi giám định. Morphine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIA, STT 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”. H1 lại đối tượng giám định: Không (M đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Kết quả xác minh tại Trung tâm y tế K, tỉnh Phú Thọ xác định: Bệnh nhân Nguyễn Việt D bắt đầu điều trị từ ngày 05/5/2023, trong thời gian điều trị bệnh nhân tuân thủ điều trị, chấp hành tốt nội quy, uống thuốc đầy đủ. Đến ngày 08/10/2025, bệnh nhân tự ý chấm dứt điều trị không có lý do. Ngày 10/11/2025, Trung tâm y tế K có Thông báo số 101/TB-TTYT chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Việt D.

Tại Cáo trạng số 108/CT-VKSKV9 ngày 11/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Việt D về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 Phú Thọ đề nghị giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Việt D 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2025.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả test nhanh chất ma túy, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên toà; do đó có đủ căn cứ khẳng định: Nguyễn Việt D là đối tượng tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo thông báo 101/TB-TTYT ngày 10/11/2025 của Trung tâm y tế K. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/12/2025, D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (Heroine) tại khu vực nghĩa trang T, xã T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả giám định tìm thấy chất ma tuý Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Việt D.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Việt D đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 256a Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

…

d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Năm 2012 bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Việt D, do D không nhớ mặt, không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác định nhân thân lai lịch của người đã bán ma tuý cho D, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi có căn cứ đề nghị xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 200.000đồng D sử dụng mua ma túy, quá trình điều tra xác định số tiền trên do D lao động tích cóp mà có, Cơ quan điều tra không thu giữ được số tiền này; đối với dụng cụ sử dụng ma túy D đã vứt bỏ không nhớ vị trí, Cơ quan điều tra không thu giữ được; đối với mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 15/12/2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Việt D phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ