- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị T-Trần Minh N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị T
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2026/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2026. “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Bích Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu Trà- ông Trương Quốc Huy
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2026/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2026/QĐXX-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1999; nơi thường trú: Xóm N (nay là thôn N), xã B, tỉnh Thái Nguyên, số CCCD 019199010306
2. Bị đơn: Anh Trần Minh N, sinh năm 1999; Nơi thường trú: Xóm S (nay xóm K), xã P, tỉnh Thái Nguyên, số CCCD 019099009324
(Chị T và anh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản khai chị Mai Thị T trình bày: chị và anh Trần Minh N được tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và quyết định tiến tới hôn nhân tự nguyên, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào năm 2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã đến năm 2020 chị N cùng hai con về nhà bố mẹ đẻ của chị ở xã B sinh sống. Từ đó, vợ chồng mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, do đó chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Minh N.
Về con chung: Trong quá trình sống chung, vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Mai N1, sinh ngày 13/12/2018 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 13/12/2020, hiện các con đều ở với chị tại xóm N, xã B cùng ông bà ngoại nên có sự hỗ trợ dậy bảo con đồng thời chị làm công nhân có thu nhập ổn định từ 9.000.000đ-10.000.000 đồng/tháng do đó có đầy đủ điều kiện để nuôi con, do chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung không có, nợ chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai bị đơn anh Trần Minh N trình bày: Anh và chị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ năm 2019, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, cãi vã nên sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí giải quyết ly hôn.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Mai N1, sinh ngày 13/12/2018 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 13/12/2020 hiện đang ở với chị T khỏe mạnh, phát triển bình thường, chị T có đầy đủ điều kiện nuôi con nên anh nhất trí để chị T trực tiếp nuôi con nên nhất trí giao con cho chị T nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chung, cháu Trần Thị Mai N1 trình bày: Hiện cháu đang học lớp 2A trường tiểu học T1 tại xã B, tỉnh Thái Nguyên, cháu ở cùng mẹ và ông bà ngoại từ nhỏ, bố chưa chăm sóc hoặc thăm cháu nên cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - T2 quan điểm:
Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự đã chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 29, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử theo hướng: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị T. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Mai Thị T được ly hôn anh Trần Minh N; Về con chung: Giao con chung Trần Thị Mai N1, sinh ngày 13/12/2018 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 13/12/2020 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N đến khi chị T có yêu cầu, anh N có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung: không có, nợ chung không yêu cầu nên không giải quyết; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Minh N có nơi thường trú: xóm S, xã P, tỉnh Thái Nguyên, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự do bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên vụ án không tiến hành hoà giải được, Toà án đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự
. Về quan hệ hôn nhân: chị Mai Thị T và anh Trần Minh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Đ, huyện Đ tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/02/2019 đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn, đến năm 2020 do vợ chồng sống mâu thuẫn, do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên chị T cùng các con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, bỏ mặc nghĩa vụ vợ chồng, trong quá trình giải quyết cả chị T và anh N đều xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không còn khả năng đoàn tụ và cùng nhất trí ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Mai N1, sinh ngày 13/12/2018 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 13/12/2020 hiện đang ở với chị T, quá trình giải quyết ly hôn chị T và anh N cùng nhất trí giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử, xét thấy: cả hai con chung từ năm 2020 đến nay đều do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện đều sinh sống cùng với chị T tại nhà bố mẹ đẻ chị T, cháu N1 có nguyện vọng tiếp tục được ở với chị T đồng thời chị T có việc làm và có thu nhập, đồng thời để ổn định cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho chị Mai Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý tốt nhất cho trẻ nhỏ.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T không yêu cầu anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N cho đến khi chị T có yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm và chăm sóc con chung, cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Về tài sản chung chị T và anh N xác định vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ gì, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giành quyền khởi kiện cho các đương sự khởi kiện vụ án dân sự khác.
. Về án phí dân sự: chị Mai Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị T
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Mai Thị T được ly hôn với anh Trần Minh N.
2. Về con chung: Giao 02 (Hai) con chung Trần Thị Mai N1, sinh ngày 13/12/2018 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 13/12/2020 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Minh N cho đến khi chị T có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm và chăm sóc con chung, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp cần thiết, vì lợi ích của con chung, các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung chị Mai Thị T và anh Trần Minh N vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ kiện vụ án dân sự khác khi có tranh chấp.
4. Về án phí: Chị Mai Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001340, ngày 03/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 4, các Điều 6,7,8 và Điều 36 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị Mai Thị T và anh Trần Minh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 4-TN; - Phòng THADS khu vực 4; - UBND xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên (ĐKKH số 04 do UBND xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 01/2/2019) - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Bích Hiền |