vanban.org

Bản án 48/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Trần Quang K, sinh ngày 24/10/2019 từ bà Diệp Thị Mộng T1 sang cho ông Trần Quang C. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nôi con chung của ông Trần Quang C.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi co…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Quang C - Diệp Thị Mộng T1: tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Trần Quang K, sinh ngày 24/10/2019 từ bà Diệp Thị Mộng T1 sang cho ông Trần Quang C. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nôi con chung của ông Trần Quang C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06-4-2026
V/v tranh chấp
về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Lài

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Văn Tâm;

2. Bà Lê Thị Mộng Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 tháng 3 và 06 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 234/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2025 về việc tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Quang C, sinh năm 1982, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 13/04/2021, địa chỉ: tổ 17, ấp 4, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã T, huyện B, tỉnh D): người đại diện hợp pháp: bà Đoàn Thị Thanh N, sinh năm 1959, địa chỉ: 860, tổ 28, ấp T 6, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 19/01/2026); có mặt.

- Bị đơn: Bà Diệp Thị Mộng T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 17, ấp 4, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã T, huyện B, tỉnh D); tạm trú: tổ 2, khu phố 4, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Danh Thị B, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp 4, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã T, huyện B, tỉnh D); có mặt ngày 19/3/2026, vắng mặt ngày 06/4/2026;

+ Bà Trần Thị T2, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp 4, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã T, huyện B, tỉnh D); có mặt ngày 19/3/2026, vắng mặt ngày 06/4/2026.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2025; Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Quang C và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thanh N trình bày:

Ông Trần Quang C và bà Diệp Thị Mộng T1 là vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh D. Quá trình chung sống ông bà có 03 người con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 13/9/2010; cháu Trần Thị Thủy T3, sinh ngày 17/5/2012 và cháu Trần Quang K1, sinh ngày 24/10/2019. Khi ly hôn, ông bà thỏa thuận giao con chung Trần Quang K cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn bà T1 chăm sóc con không tốt, thường xuyên đi chơi bỏ mặc con cho mẹ ruột là bà Danh Thị B chăm sóc. Vào ngày 29/7/2025, cháu K về nhà ông C chơi, trong khi tắm thì cháu K kêu đau ở đầu nên ông C kiểm tra và phát hiện cháu K có nhiều vết thương bầm tím nên đã chở đến Bệnh viện Nhi trung ương - Đồng Nai, kết quả cháu K bị tổn thương nông ở bụng, vai, đầu và cổ. Ngày 30/7/2025, ông C làm đơn trình báo đến Công an xã T về việc bà Diệp Thị Mộng T1 có hành vi bạo hành cháu Trần Quang K. Ngày 31/7/2025, cháu K bị bệnh nên bà T có đưa đến Trung tâm y tế phường U để khám và bác sỹ chẩn đoán cháu K bị viêm đường ruột phải nhập viện để điều trị. Việc này chứng tỏ bà T1 là người chăm sóc con không tốt. Sau khi ly hôn, bà T1 là người trực tiếp nuôi con nhưng đã đưa cháu K đi khỏi địa phương ảnh hưởng đến quyền thăm nom, chăm sóc con của ông C. Do đó, ông C làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con.

- Bị đơn bà Diệp Thị Mộng T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T1 không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Theo Công văn số 43/TL-CAX ngày 18/8/2025 của Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin như sau: Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn trình báo đề ngày 30/7/2025 ghi tên là ông Trần Quang C, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp 4, xã T về việc tố giác bà Diệp Thị Mộng T1 , sinh năm 1990; địa chỉ: ấp 4, xã T có hành vi bạo hành con ruột là cháu Trần Quang K, sinh năm: 2019. Quá trình xác minh đơn của ông C nhận thấy, việc Trần Quang K là con ruột của ông Trần Quang C và bà Diệp Thị Mộng T1 có vết thương tích bầm tím đã phai mờ trên bụng (hông trái), trên vai và vết xây xát trên trán đã lành là do việc Trần Quang K quá trình vui chơi, đùa giỡn với Diệp Anh K1 rồi bị té ngã tại nhà bà Danh Thị B (mẹ của bà T1) và trong quá trình đưa K về, K khóc lóc, giãy giụa nhiều lần tuột xuống xe gây ra. Xét thấy, vụ việc trên không có hành vi bạo hành trẻ em theo đơn tố giác của ông Trần Quang C.

- Người làm chứng bà Trương Thị T2: Nhà bà T2 ở gần nhà của bà Danh Thị B và cũng gần nhà của bà Diệp Thị Mộng T1. Quá trình sinh sống bà Thắm chưa thấy bà T1 đánh đập con lần nào.

- Người làm chứng bà Danh Thị B: Bà B là mẹ ruột của bà Diệp Thị Mộng T1. Bà T1 và ông C ly hôn với nhau từ đầu năm 2025, sau khi ly hôn bà T1 là người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Quang K. Quá trình nuôi con tôi thấy chưa lần nào bà T1 đánh đập con. Vào ngày 25/7/2025 tôi có đến chỗ ở của T1 để đón cháu K về nhà chơi, trong quá trình chơi có bị té lên đống đồ chơi đang bày trong nhà sau đó vẫn chơi bình thường, không có việc bà T1 bạo hành đối với con là cháu Trần Quang K như ông Trần Quang C trình bày.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: không có.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ông Trần Quang C khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn với bà Diệp Thị Mộng T1 đăng ký thường trú tại ấp 4, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: tổ 2, khu phố 4, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Diệp Thị Mộng T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Ông Trần Quang C và bà Diệp Thị Mộng T có 03 con chung là Trần Trung K1, sinh ngày 13/9/2010; cháu Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 17/5/2012 và cháu Trần Quang K, sinh ngày 24/10/2019. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh D, ông C và bà T1 đã thỏa thuận giao con chung Trần Quang K cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng nuôi con. Từ sau khi ly hôn đến nay, cháu K vẫn sống cùng với bà T1 tại ấp 4, xã T cho đến khi ông C làm đơn tố giác bà T1 về hành vi bạo hành đối với cháu K thì bà T1 đã dẫn cháu K đi nơi khác.

[3] Theo kết quả trả lời của Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh về đơn tố giác của ông C như sau: việc Trần Quang K con ruột của ông Trần Quang C và bà Diệp Thị Mộng T1 có vết thương tích bầm tím đã phai mờ trên bụng (hông trái), trên vai và vết xây xát trên trán đã lành là do Trần Quang K trong quá trình vui chơi, đùa giỡn với Diệp Anh K1 rồi bị té ngã tại nhà bà Danh Thị B (mẹ của bà T1) và trong quá trình đưa K về, K khóc lóc, giãy giụa nhiều lần tuột xuống xe gây ra. Xét thấy, vụ việc trên không có hành vi bạo hành trẻ em theo đơn tố giác của ông Trần Quang C.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con: “ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con”. Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...”. Tại thời điểm ông C, bà T1 thoả thuận ly hôn, ông C là người trực tiếp nuôi hai con chung là cháu Trần Trung K1 và cháu Trần Thị Thủy T2; bà T1 nuôi cháu Trần Quang K. Tuy nhiên, ông C cho rằng bà T1 có hành vi bạo hành với cháu K, không đảm bảo điều kiện chăm sóc con và hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của ông C nên làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Trần Quang K, sinh ngày 24/10/2019 là trẻ nhỏ chưa đủ 07 tuổi, thuộc nhóm cần được chăm sóc đặc biệt theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Thực tế cho thấy cháu bị thương tích trong thời gian sống với bị đơn. Mặc dù chưa đủ căn cứ để kết luận bị đơn bạo hành với cháu K nhưng việc này là dấu hiệu cho thấy môi trường sống thiếu an toàn và sự giám sát chưa đầy đủ của bị đơn. Trong khi đó, nghĩa vụ của cha mẹ theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định không chỉ nuôi dưỡng mà còn phải “Trông nom, chăm sóc, bảo vệ con”. Hơn nữa, bị đơn đã tự ý đưa cháu K rời khỏi địa phương mà không thông báo nơi cư trú rõ ràng, không tạo điều kiện để nguyên đơn thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc con. Hành vi này vi phạm trực tiếp quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm gián đoạn sự gắn kết tình cảm giữa cha và con. Bị đơn đã tước đi quyền được chăm sóc, giáo dục từ cả hai phía của trẻ gây ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển tâm lý và nhân cách. Đây là dấu hiệu cho thấy bị đơn không thực hiện đúng vai trò của người trực tiếp nuôi con, vi phạm thoả thuận của các bên theo Quyết định số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2025 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh D.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ, không thể hiện ý chí bảo vệ quyền nuôi con của mình. Trong khi đó theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang C về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[5] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

[6] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tố tụng, Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Diệp Thị Mộng T1 trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao, Báo Thanh niên; Đài Tiếng nói Việt Nam. Nguyên đơn ông C tự ngyện chịu 5.799.060 đồng (đã thực hiện xong).

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang C được chấp nhận nên bà Diệp Thị Mộng T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 58, 69, 70, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Trần Quang K, sinh ngày 24/10/2019 từ bà Diệp Thị Mộng T1 sang cho ông Trần Quang C. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nôi con chung của ông Trần Quang C.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Quang C chịu 5.799.060 đồng (đã thực hiện xong).

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Diệp Thị Mộng T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Trần Quang C không phải chịu án phí. Trả lại cho ông C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0025232 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;

- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;

- VKSND Khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh;

- Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;

- Các đương sự;

Nguyễn Thị Kim Lài

- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mộng Tuyền Tống Văn Tâm

Nguyễn Thị Kim Lài

Cỡ chữ