vanban.org

Bản án 48/2026/HC-PT — Hành chính

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với trường hợp thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và cưỡng chế thu hồi đất"
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Đất đai; Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 34 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2026/HC-PT
Ngày: 11-3-2026
V/v: “Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh
vực quản lý đất đai đối với trường
hợp thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và
cưỡng chế thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Phước Hoà

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Tấn Long

bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành An, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 06/2025/TLPT- TA ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với trường hợp thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và cưỡng chế thu hồi đất”.Do Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2025/HC-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà) bị người khởi kiện kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Trương Thị Yến N, sinh năm: 1981; Địa chỉ: A tầng B chung cư I L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1954; Ông Trương Phước N1, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Và ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Khu phố E, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Đơn vị kế thừa quyền và nghĩa vụ: Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Khánh Hòa.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Khánh Hòa. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hoài N2 - Chủ tịch. Đại diện theo ủy quyền ông Đào Huyền T1 – Phó chủ tịch, xin xét xử vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Duy S, ông Phan Thanh N3 – cán bộ Ban quản lý dự án phường P. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án phía người khởi kiện trình bày:

Ngày 02/06/2023, UBND thành phố P - T ban hành Quyết định hành chính số: 1744/QĐ-UBND về việc thu hồi đất do bà Trương Thị Yến N đang sử dụng thửa đất số 90 tờ bản đồ số 22 diện tích 602.5m² mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm tại phường P để thực hiện Dự án Khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Cùng ngày, UBND thành phố P – T ban hành Quyết định hành chính số: 1763/QĐ-UBND về việc bồi thường hỗ trợ đất do bà Trương Thị Yến N đang sử dụng thửa đất số 90 tờ bản đồ số 22, số tiền 527.966.262 đồng tại phường P để thực hiện Dự án Khu đô thị M.

Ngày 18/12/2023, UBND thành phố P - T đã ban hành Quyết định hành chính số: 4526/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất. Căn cứ để ban hành các quyết định trên là: Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 19/10/2020, Quyết định số 599/QĐ-UBND ngày 11/10/2020, Quyết định số 666/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh N.

Dự án Khu đô thị mới bờ sông D thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận đã đưa vào ranh dự án 11,28 ha đất bãi sông và đã được lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận phê duyệt sử dụng để xây dựng các công trình không thuộc khoản 1, 2 Điều 26 Luật Đê điều là trái thẩm quyền nên UBND thành phố P - T không có cơ sở để phê duyệt các quyết định số 2738/QĐ-UBND ngày 25/07/2023, quyết định số: 4196/QĐ-UBND ngày 30/12/2022, 4199/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 quyết định số 4212/QĐ-UBND ngày 30/12/2022, quyết định số 343/QĐ-UBND ngày 12/03/2024.

Dự án Khu đô thị M có những dấu hiệu sai phạm, vi phạm luật đê điều, cụ thể: Trong văn bản số 3185/SXD-QLQHKT&NƠ ngày 21/9/2023 của Sở xây dựng về việc tham mưu xử lý kiến nghị của các hộ dân phường P liên quan dự án Khu đô thị M cũng như ý kiến trả lời của Sở xây dựng tại văn bản số 6037/UBND-TTPTQĐ ngày 27/12/2023 đều khẳng định “giữ nguyên chức năng đê bảo vệ Bờ Sông D” của tuyến đê nằm trong ranh dự án, một khi đã đưa tuyến đê này vào ranh dự án và có “Chức năng chính là đê bao bảo vệ Bờ Sông D” thì phải áp dụng Luật đê điều làm căn cứ trong mọi đồ án thiết kế của dự án. Tuy nhiên, từ đồ án quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 cho đến quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 (theo quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 19/10/2020 về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng (tỷ lệ 1/500) khu đô thị mới bờ sông D thuộc phường P và phường M thành phố P cũng như quyết định số 666/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chi tiết xây dựng (tỷ lệ 1/500) Khu đô thị M, thuộc phường P và phường M, thành phố P - T của dự án này không căn cứ vào Luật đê điều. Từ đó dẫn đến các dấu hiệu sai phạm sau:

- Thiết kế của dự án đã vi phạm phạm vi bảo vệ đê. Theo điều 7 Các hành vi bị nghiêm cấm, chương I, Luật đê điều 79/2006/QH 11, khoản 5 và mục a; Khoản 2, Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và luật đê điều số 60/2020/QH14: Nghiêm cấm Xây dựng công trình, nhà ở trong phạm vi bảo vệ đê điều và phạm vi lòng sông không gồm bãi nổi hoặc cù lao, trừ công trình phục vụ phòng, chống lũ, lụt, bão, công trình phụ trợ và công trình đặc biệt, điều 23 Phạm vi bảo vệ đê điều, chương III, Luật đê điều 79/2006/QH 11 cũng đã có nêu rõ quy định về phạm vi bảo vệ đê và qui định cho UBND tỉnh phải có trách nhiệm cắm mốc phạm vi bảo vệ đê. Thế nhưng đồ án QHCT Xây dựng 1/500 Khu đô thị M có các công trình xây dựng được bố trí nằm trong khu vực thuộc phạm vi bảo vệ đê về phía bãi sông và phần nền đất phân lô sát bờ đê về phía khu dân cư đã không tuân thủ phạm vi bảo vệ đê.

- Sở Xây dựng tỉnh N cho rằng các công trình công cộng phía bán ngập của lòng sông “trong quá trình lập đồ án đã tiến hành lấy ý kiến các Sở Ban ngành có liên quan, trong đó Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” là phù hợp. Việc không căn cứ vào Luật đê điều dẫn đến Sở Xây dựng đã không xác định đúng cơ quan tham mưu. Theo khoản 3 và 4, điều 26 Sử dụng bãi sông nơi chưa có công trình xây dựng, chương III, Luật đê điều 79/2006/QH 11, quy định rõ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo lập dự án đầu tư xây dựng các công trình quy định tại khoản 3 điều này trình Bộ N4 thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Vậy việc thiết kế các công trình xây dựng phía ngoài đê mà chỉ xin ý kiến của Sở N5 là chưa đúng quy định. Dự án đầu tư khu đô thị mới bờ sông D có công trình xây dựng thuộc phạm vi đất bãi sông phải được Bộ N4 thẩm định và được thủ tướng Chính Phủ phê duyệt.

Mục đích của việc thu hồi đất của bà đang sử dụng tại phường P là để thực hiện Dự án Khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên, Dự án này lại có những dấu hiệu sai phạm, vi phạm luật đê điều như đã nêu trên và theo nghị quyết số 113/NQ-HĐND ngày 11/12/2021 của hội đồng nhân dân tỉnh N về phê duyệt danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2022 và nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 của hội đồng nhân dân tỉnh N về phê duyệt danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2023 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, tại điều 1 khoản 1 của các nghị quyết này có quy định “... đối với các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách nhà nước phải có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Vì chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị M tại quyết định số 599/QĐ-UBND ngày 11/10/2021 và việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 khu đô thị M tại quyết định số 666/QĐ-UBND ngày 28/11/2023 của UBND tỉnh N được phê duyệt, chấp thuận bởi ông Phan Tấn C là không đúng thẩm quyền (tại thời điểm phê duyệt, ông Phan Tấn C là phó chủ tịch tỉnh Ninh Thuận). Việc HĐND đưa dự án Khu đô thị M vào danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2022 và năm 2023 là không đúng với tiêu chí thu hồi đất đã được quy định tại điều 1 khoản 1 trong các nghị quyết số 113/NQ-HĐND ngày 11/12/2021 và nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 về phê duyệt danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2022, năm 2023 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Các quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023, quyết định số 1744/QĐ-UBND ngày 02/06/2023, quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/06/2023 đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, cụ thể:

Thứ nhất, bởi vì Dự án Khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận chưa tuân thủ quy định pháp luật về đê điều nên các quyết định ban hành đối với bà N là chưa đúng thẩm quyền thẩm định phê duyệt dự án như đã phân tích trên.

Thứ hai, đất có nguồn gốc ông bà ngoại là Nguyễn Văn Q và Lê Thị M cho cha mẹ bà N là ông Trương Phước T2 và bà Nguyễn Thị R. Ngày 01/7/2017, bà N được ông T2, bà R tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 602,5m2. Trước khi tách sổ trên mảnh đất có căn nhà đã được cha mẹ bà N là ông T2 và bà R xây dựng trước năm 1993 để canh tác nông nghiệp sử dụng ổn định và không có tranh chấp. Nguồn gốc đất đã có trước năm 1970 đến nay. Trước năm 1980 trên đất đã hình thành 01 căn nhà trong thời gian sử dụng và canh tác trên mảnh đất đó. Theo Điều 103 Luật đất đai năm 2013 thì bà N phải được xem xét lại diện tích đất ở khi thu hồi đất và cấp 01 lô đất tái định cư cho bà N.

Thứ ba, giá bồi thường chỉ 270.000 đồng/m2 là quá thấp, bà N không đủ điều kiện kinh tế để mua lại đất mới và xây nhà để ở ổn định cuộc sống.

Vì vậy, bà Trương Thị Yến N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định hành chính số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc thu hồi đất do bà Trương Thị Yến N đang sử dụng để thực hiện Dự án khu đô thị mới bờ sông D, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận;

- Hủy Quyết định hành chính số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án khu đô thị mới bờ sông D, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận;

- Hủy Quyết định hành chính số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc cưỡng chế thu hồi đất.

- Yêu cầu xác định lại nguồn gốc nhà và đất, cấp 01 lô tái định cư, giá đất theo giá thị trường, hỗ trợ tiền thuê nhà ở, hoán đổi lại 30% diện tích đất, giá chuyển đổi nghề, bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định cho tới nay.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P – T ông Lê Hoài N2 trình bày:

- Về nội dung đề nghị hủy Quyết định số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T:

Căn cứ Điểm d, Khoản 3, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, Hội đồng nhân dân tỉnh N đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 phê duyệt Danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2023 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, trong đó có dự án Khu đô thị M.

Căn cứ Điều 63 Luật Đất đai năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định số 152/QĐ-UBND ngày 05/4/2023 về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố P - T, trong đó có dự án Khu đô thị M;

Căn cứ Khoản 2, Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai 2013, Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục thu hồi đất.

Ngày 22/7/2022, Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Thông báo thu hồi đất số 988/TB-UBND đối với hộ ông (bà) Trương Phước T2, địa chỉ: phường P; thửa đất số 2, thuộc tờ bản đồ số 22, phường P; diện tích dự kiến thu hồi 2.519,5 m2; loại đất đang sử dụng: Đất trồng cây lâu năm (CLN).

Ngày 17/02/2023, Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Thông báo thu hồi đất số 77/TB-UBND về việc điều chỉnh Thông báo số 988/TB-UBND ngày 22/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T, điều chỉnh thành:

Thu hồi đất của ông (bà) Cao Thị L, diện tích đất dự kiến thu hồi: 400,0 m2, thửa đất số 257, thuộc tờ bản đồ số 17, loại đất đang sử dụng: Đất trồng cây cây lâu năm (CLN);

Thu hồi đất của hộ ông (bà) Trương Thị Yến N, diện tích đất dự kiến thu hồi: 602,5 m2, thửa đất số 91, thuộc tờ bản đồ số 22, loại đất đang sử dụng: Đất cây lâu năm (CLN);

Ngày 22/02/2023, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với các đơn vị có liên quan và UBND phường P, triển khai và giao Thông báo thu hồi đất cho các hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi để thực hiện dự án Khu đô thị M, trong đó có ông (bà) Trương Thị Yến N.

Ngày 03/3/2023, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với UBND phường P cùng với ông (bà) Trương Thị Yến N, tiến hành kiểm kê đo đạc hiện trạng tài sản, vật kiến trúc, cây trồng trên diện tích đất thu hồi thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, phường P; diện tích dự kiến thu hồi 602,5 m2; loại đất đang sử dụng: Đất trồng cây lâu năm (CLN).

Ngày 10/3/2023, Hội đồng tư vấn đất đai phường P xác nhận nguồn gốc sử dụng đất của ông (bà) Trương Thị Yến N như sau:

“Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, diện tích thu hồi 602,5 m2, tương ứng một phần thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 602,5 m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm. Đất đã được cấp GCNQSD đất số CK 487542 ngày 01/8/2017 cho bà Trương Thị Yến N. Hiện trạng sử dụng ổn định không tranh chấp, khiếu nại. HĐTVĐĐ phường Phủ Hà thống nhất quy chủ sử dụng đất và tài sản trên đất cho bà Trương Thị Yến N. Thửa đất thu hồi đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp. Năm xây dựng: phục vụ sản xuất nông nghiệp”.

Ngày 18/4/2023, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với UBND phường P thông qua dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Trương Thị Yến N và niêm yết phương án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân phường P.

Ngày 02/6/2023, Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Quyết định số 1744/QĐ-UBND về việc thu hồi đất do ông (bà) Trương Thị Yến N đang sử dụng tại phường P để thực hiện dự án Khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; thu hồi diện tích 602,5 m2, đất trồng cây lâu năm; thuộc thửa số 91 tờ bản đồ địa chính số 22.

Đối chiếu với quy định trên, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 là phù hợp với quy định.

- Về nội dung đề nghị hủy Quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T:

Căn cứ Khoản 2, Điều 74 Luật Đất đai năm 2013, Căn cứ Bảng giá các loại đất kỳ 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 của UBND tỉnh N) quy định như sau: “Giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại địa bàn thành phố P - T, có đơn giá là: 120.000 đồng/m2”. Căn cứ Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 16/11/2022 về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất cụ thể tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị M, phường P, thành phố P - T, trong đó quy định hệ số điều chỉnh giá đất đối với đất trồng cây lâu năm là 2,25.

Ngày 02/6/2023, Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Quyết định số 1760/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho các hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị M, thành phố P - T. Trong đó xác định phương án bồi thường là bồi thường bằng tiền theo Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 16/11/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh N.

Ngày 02/6/2023, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông (bà) Trương Thị Yến N với giá bồi thường đất trồng cây lâu năm 120.000 đồng/m2 x với hệ số 2,25 lần = 270.000 đồng/m2 là đúng theo quy định hiện hành.

Ngoài việc được bồi thường về đất, hộ ông (bà) Trương Thị Yến N còn được hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường bằng 04 lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo quy định tại Điểm a, Khoản 4 Điều 36 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND ngày 07/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh N.

Đối với giá các vật kiến trúc và hoa màu được bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 áp dụng giá vật kiến trúc và theo quy định tại Quyết định số 25/2022/QĐ-UBND ngày 11/5/2022 về việc Quy định Bảng giá nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc; Bảng phân cấp nhà ở trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; Giá hoa màu theo quy định tại Quyết định số 59/2020/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 về việc ban hành bảng giá hoa màu, cây trồng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Đối chiếu với quy định trên, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 là phù hợp với quy định. Theo đó, bồi thường về đất (thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22): 162.675.000 đồng (theo cách tính: 602,5m2 x 270.000 đồng); Hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường: 289.200.000 đồng (theo cách tính: 602,5m2 x 4 x 120.000 đồng).

- Về nội dung đề nghị hủy Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T:

Thực hiện Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N tại dự án Khu đô thị M, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố đã mời bà Trương Thị Yến N nhận tiền bồi thường, hỗ trợ (tại Thông báo số 2158/TB-TTPTQĐ ngày 11/7/2023, Thông báo số 2368/TB-TTPTQĐ ngày 01/8/2023, Thông báo số 2463/TB-TTPTQĐ ngày 14/08/2023) nhưng bà N không nhận tiền và bàn giao mặt bằng.

Ngày 14/11/2023, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, Ủy ban MTTQVN phường P và chủ đầu tư mời bà Trương Thị Yến N làm việc để vận động nhận tiền và bàn giao mặt bằng nhưng hộ gia đình bà N không nhận tiền và bàn giao mặt bằng.

Sau khi tổ chức vận động, Ủy ban nhân dân phường P ban hành Báo cáo số 242/BC-UBND ngày 23/11/2023 về tình hình vận động các hộ gia đình, cá nhân bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án Khu đô thị M, trong đó có bà Trương Thị Yến N. Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố có Văn bản đề nghị ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án Khu đô thị M, trong đó có hộ bà Trương Thị Yến N.

Trên cơ sở Báo cáo của Ủy ban nhân dân phường P và đề nghị của Trung tâm phát triển quỹ đất. Ngày 13/12/2023, phòng T3 có Tờ trình số 2306/TTr-TNMT về việc đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố B Quyết định cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất đối với bà Trương Thị Yến N.

Ngày 18/12/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 4526/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Trương Thị Yến N, trong đó có nội dung: “Áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất đối với ông (bà) Trương Thị Yến N đang sử dụng thửa đất số 91, tờ bản đồ địa chính số 22 tại phường P, thành phố P - T, do ông (bà) Trương Thị Yến N không chấp hành bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án Khu đô thị M” và Quyết định số 4527/QĐ-UBND về việc thành lập Ban thực hiện cưỡng chế thu hồi đối với ông (bà) Trương Thị Yến N (ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân phường P triển khai Quyết định số 4526/QĐ-UBND đến hộ gia đình bà N, bà N đã nhận Quyết định nhưng không ký biên bản, Ủy ban nhân dân phường P đã niêm yết công khai các Quyết định này tại trụ sở Ủy ban phường và trụ sở khu phố A, 2).

Căn cứ Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất và quy định tại Khoản 2, Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T4 về hồ sơ trình ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 về cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Trương Thị Yến N là đúng trình tự, thủ tục quy định.

- Yêu cầu xác định lại nguồn gốc nhà và đất, cấp 01 lô tái định cư, giá đất theo giá thị trường, hỗ trợ tiền thuê nhà ở, hoán đổi lại 30% diện tích đất, giá chuyển đổi nghề, bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định tới nay:

Về xác định lại nguồn gốc nhà và đất: Căn cứ Khoản 1, Điều 11 Luật Đất đai năm 2013 quy định về căn cứ để xác định loại đất: “Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây: 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Theo kết quả họp xét nguồn gốc sử dụng đất của Hội đồng tư vấn đất đai phường P, thửa đất thu hồi của bà Trương Thị Yến N đã được cấp GCNQSD đất số CK 487542 ngày 01/8/2017 cho bà Trương Thị Yến N, loại đất trồng cây lâu năm.

Đối chiếu với quy định nêu trên, loại đất thu hồi của bà Trương Thị Yến N là đất trồng cây lâu năm đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho bà theo loại đất trồng cây lâu năm là đúng theo quy định.

Về yêu cầu cấp 01 lô tái định cư, hỗ trợ tiền thuê nhà ở:

Căn cứ quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 12 quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận kèm theo Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND ngày 07/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh N và khoản 2, Điều 36 quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận kèm theo Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND ngày 07/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh N về hỗ trợ tiền thuê nhà ở thì trường hợp bà Trương Thị Yến N thu hồi đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm), không phải đất ở. Do đó, việc bà yêu cầu cấp 01 lô tái định cư, hỗ trợ tiền thuê nhà ở là không có cơ sở để xem xét.

Về xác định lại giá đất theo giá thị trường, hoán đổi lại 30% diện tích đất:

Theo nội dung trình bày tại mục 2 nêu trên, xác định phương án bồi thường đất là bồi thường bằng tiền, trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N là đúng theo quy định hiện hành, việc bà N đề nghị xác định lại giá đất theo giá thị trường và hoán đổi lại 30% diện tích đất là không có cơ sở để xem xét.

Về nội dung yêu cầu bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định tới nay, bồi thường giá chuyển đổi nghề: Căn cứ các quy định hiện hành, Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N là đúng theo trình tự, thủ tục như đã trình bày tại mục 1 và mục 2 nêu trên.

Căn cứ Điều 31 và Điều 32 quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận kèm theo Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND ngày 07/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh N về hỗ trợ ổn định đời sống và hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, bà Trương Thị Yến N hiện đang là giảng viên, không thuộc đối tượng có trực tiếp sản xuất nông nghiệp, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ, trong đó không hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm là đúng theo quy định.

Từ những nội dung trình bày nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bác toàn bộ nội dung khởi kiện của bà Trương Thị Yến N

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2025/HC-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà) đã quyết định:

“Căn cứ: Khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 164; Điều 191; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194; Điều 204 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 69, Điều 71, Điều 74, Điều 75 Luật đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Yến N về việc:

- Hủy Quyết định hành chính số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc thu hồi đất do bà Trương Thị Yến N đang sử dụng để thực hiện Dự án khu đô thị mới bờ sông D, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận;

- Hủy Quyết định hành chính số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án khu đô thị mới bờ sông D, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận;

- Hủy Quyết định hành chính số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc cưỡng chế thu hồi đất.

- Yêu cầu xác định lại nguồn gốc nhà và đất, cấp 01 lô tái định cư, giá đất theo giá thị trường, hỗ trợ tiền thuê nhà ở, hoán đổi lại 30% diện tích đất, giá chuyển đổi nghề, bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định cho tới nay.”

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/7/2025, bà Trương Thị Yến N có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt và kháng cáo bổ sung đề nghị huỷ bản án hành chính sơ thẩm hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà theo hướng huỷ các quyết định hành chính bị kiện; buộc phía Uỷ ban phải bồi thường 300m2 đất ODT và 302,5m2 đất nông nghiệp theo giá thị trường; bồi thường tiền chuyển đổi nghề nghiệp 144.600.000 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống 28.800.000 đồng; hỗ trợ sản xuất 28.800.000 đồng. Buộc xác định lại diện tích đất ở và bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, về trình tự, thủ tục giải quyết thì Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị Yến N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm người khởi kiện, người bị kiện vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Thấy đây là phiên tòa được mở lần 2 và người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đã có ý kiến trình bày trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những đương sự nêu trên không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những đương sự trên.

[2] Xét yêu cầu hủy Quyết định thu hồi đất số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T:

[2.1] Dự án Khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là dự án xây dựng khu đô thị mới thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế

- xã hội theo quy định tại điểm d khoản 3, Điều 62 Luật đất đai năm 2013. Dự án đã được Hội đồng nhân dân tỉnh N chấp thuận tại Nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 về việc phê duyệt danh mục các dự án phải thu hồi đất năm 2023 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, trong đó có dự án khu đô thị M. Ngày 05/4/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành Quyết định số 152/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của thành phố P - T, trong đó có dự án khu đô thị M.

[2.2] Ngày 10/3/2023, Hội đồng tư vấn đất đai phường P xác nhận nguồn gốc sử dụng đất như sau: “Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, diện tích thu hồi 602,5 m2, tương ứng một phần thửa đất số 91, tờ bản đồ số 22, diện tích 602,5 m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm. Đất đã được cấp GCNQSD đất số CK 487542 ngày 01/8/2017 cho bà Trương Thị Yến N. Hiện trạng sử dụng ổn định không tranh chấp, khiếu nại. HĐTVĐĐ phường Phủ Hà thống nhất quy chủ sử dụng đất và tài sản trên đất cho bà Trương Thị Yến N. Thửa đất thu hồi đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp. Năm xây dựng: phục vụ sản xuất nông nghiệp”.

Căn cứ Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 69 Luật đất đai năm 2013 thì Quyết định số 1744/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T thu hồi thu hồi diện tích 602,5 m2, đất trồng cây lâu năm do bà N đang sử dụng thuộc thửa số 91 tờ bản đồ địa chính số B, phường P để thực hiện khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận được ban hành đúng quy định pháp luật.

[3] Xét yêu cầu hủy Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T:

Căn cứ khoản 2 Điều 74, khoản 1 Điều 75 Luật đất năm 2013, Bảng giá các loại đất kỳ 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 của UBND tỉnh N) quy định như sau: “Giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại địa bàn thành phố P - T, có đơn giá là: 120.000 đồng/m2”, hệ số điều chỉnh giá đất đối với đất trồng cây lâu năm bằng 2,25 theo Quyết định số 618/QĐ-UBND ngày 16/11/2022 của UBND tỉnh N. Vì vậy, Ủy ban nhân dân thành phố P - T bồi thường về đất cho bà N số tiền 162.675.000 đồng là đúng quy định tại khoản 2 Điều 74, khoản 1 Điều 75 Luật đất năm 2013.

Bà N kháng cáo yêu cầu phía Uỷ ban bồi thường 300m2 đất ODT và 302,5m2 đất nông nghiệp theo giá thị trường theo giá thị trường. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy, Dự án xây dựng khu đô thị M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là dự án phát triển kinh tế-xã hội địa phương nên Ủy ban nhân dân thành phố P-T bồi thường theo bảng giá đất nông nghiệp quy định tại địa phương là có căn cứ.

Ngoài ra, Quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của UBND thành phố P – T còn hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường cho bà N bằng 04 lần giá đất nông nghiệp cùng loại 289.200.000 đồng; bồi thường vật kiến trúc: 7.761.362 đồng; bồi thường về hoa màu 68.329.900 đồng. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy Quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 02/6/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Trương Thị Yến N khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị M, thành phố P - T phù hợp quy định của pháp luật về việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp. Do đó, việc bà N kháng cáo yêu cầu buộc phía Uỷ ban phải bồi thường tiền chuyển đổi nghề nghiệp 144.600.000 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống 28.800.000 đồng; hỗ trợ sản xuất 28.800.000 đồng; buộc xác định lại diện tích đất ở và bồi thường, hỗ trợ tái định cư là không có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu hủy Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T về việc cưỡng chế thu hồi đất:

Sau khi ban hành quyết định thu hồi, bồi thường đối với bà N, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P và các cơ quan khác đã nhiều lần giải thích, vận động, thuyết phục nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng nhưng bà N không đồng ý nhận tiền và bàn giao mặt bằng. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P - T ban hành Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 về việc cưỡng chế thu hồi đất là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, nội dung đúng quy định pháp luật theo điểm d, khoản 3 Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2, Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T4.

[5] Xét yêu cầu xác định lại nguồn gốc nhà và đất, cấp 01 lô tái định cư, giá đất theo giá thị trường, hỗ trợ tiền thuê nhà ở, hoán đổi lại 30% diện tích đất, giá chuyển đổi nghề, bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định cho tới nay:

Căn cứ Khoản 1, Điều 11 Luật Đất đai năm 2013 quy định về căn cứ để xác định loại đất: “Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây: 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Bà N đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 487542 ngày 01/8/2017, loại đất trồng cây lâu năm.

Từ những phân tích trên thì các quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố P - T được ban hành đúng quy định của pháp luật, diện tích đất mà bà N bị thu hồi là đất trồng cây lâu năm không phải là đất ở, bà N lại không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên bà N yêu cầu xác định lại nguồn gốc nhà và đất, cấp 01 lô tái định cư, giá đất theo giá thị trường, hỗ trợ tiền thuê nhà ở, hoán đổi lại 30% diện tích đất, hỗ trợ chuyển đổi nghề, ổn đình đời sống, ổn định sản xuất, bồi thường thiệt hại về công ăn việc làm khi dự án làm bà N mất việc từ khi ra quyết định cho tới nay là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trương Thị Yến N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính;

1. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Trương Thị Yến N, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 36/2025/HC-ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà).

Áp dụng khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm:

Bà Trương Thị Yến N phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí số 0000699 ngày 05/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hoà.

3. Những quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ