vanban.org

Bản án 48/2026/DS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Cà Văn B được ly hôn với chị Cầm Thị Q

Về con chung: Không có Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cà Văn B - Cầm Thị Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Cà Văn B được ly hôn với chị Cầm Thị Q
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 48 /2026/DS-ST
Ngày: 02- 6-2026
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bạc Thị Liên

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lụa

Ông Nguyễn Quốc Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Đặng Phương L - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên;

Ngày 02 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2026/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2026 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2026/QĐXX-ST ngày 28 tháng 04 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 43/2026/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2026

- Nguyên đơn: Anh Cà Văn B - Sinh năm: 2003; Địa chỉ: Bản B, xã Mường P, tỉnh Điện Biên. Có mặt

- Bị đơn: Chị Cầm Thị Q - Sinh năm: 2005; Địa chỉ: Bản P 2, xã Mường P, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Đối với nguyên đơn:Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/1/2026 và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên, anh Cà Văn B (nguyên đơn) trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi với cô Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 19/2/2024, hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống với nhau được khoảng nửa năm thì cả 2 vợ chồng cùng đi làm thuê sau đó phát sinh mâu thuẫn. Cô Q tự chuyển chỗ ở không sống cùng tôi nữa và chúng tôi đã ly thân từ tháng 3/2025 cho đến nay không quay lại. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, do vậy tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho tôi và cô Quỳnh.

- Về con chung: Không có

- Về tài sản: Không có

2. Đối với bị đơn: Ngày 26/2/2026, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân khu vực 1- Đ đã thông báo nội dung đơn xin ly hôn với các yêu cầu cụ thể của anh Cà Văn B cho chị Cầm Thị Q được biết, giao Thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho chị Q. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Thông báo thụ lý vụ án, chị Q không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Tòa án. Tòa đã triệu tập nhiều lần và tiến hành giao Thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải vụ án hợp lệ cho chị Q, nhưng chị Q vẫn không đến Tòa. Do vậy Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật hôn nhân gia đình đối với các đương sự. Ngày 28/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên, tỉnh Đ đã ra Quyết định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho chị Q nhưng chị Q vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa và tiến hành tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Q đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

3. Tại phiên toà anh Cà Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai anh đã trình bày. Chị Cầm Thị Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Tố tụng: Bị đơn có địa chỉ tại Bản P 2, xã M, tỉnh Điện Biên do vậy vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 177/BLTTDS, việc chị Cầm Thị Q không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70,72/BLTTDS là do chị Q đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, cho nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Cà Văn B và chị Cầm Thị Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã Mường P, tỉnh Điện Biên. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.

Theo lời khai của anh Bình cho thấy: Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do cả 2 vợ chồng đi làm thuê, dẫn đến khoảng cách trong tình cảm. Chị Q đã tự chuyển chỗ ở không sống cùng anh B nữa và hai người đã ly thân từ tháng 3/2025 cho đến nay không quay lại. Bản thân anh B thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Q

Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Toà về yêu cầu khởi của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của anh Cà Văn B và giải thoát cho anh thoát khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không còn đem lại hạnh phúc, mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, vì mục đích của hôn nhân không đạt được. Hai anh chị không dành thời gian chung sống chăm sóc giúp đỡ nhau, theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hai anh chị không muốn thực hiện quyền và nghĩa vụ qui định tại điều luật này do hai anh chị đã sống ly thân . Bản thân chị Quỳnh không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh Cà Văn B xử cho ly hôn giữa anh Cà Văn B và chị Cầm Thị Q.

. Về con chung: Không có

. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, anh Bình phải chịu 300.000đ án phí DSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 19, Điều 69, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Anh Cà Văn B được ly hôn với chị Cầm Thị Q

2. Về con chung: Không có

3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, anh B phải chịu 300.000đ án phí DSST. Anh B đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ theo biên lai số: 0000112 ngày 26/2/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên. Anh B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ