- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hùy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HSST Ngày 06-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm
Bà Nguyễn Thị Đẹp
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, t nh Đ ng Tháp
- i di n i n ki m sát nhân dân thành ph a éc, tỉnh ồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quách Văn D (Tên gọi khác: Dủ K), sinh ngày 01/01/1981; Nơi sinh: t nh Hậu Giang; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, t nh Đ ng Tháp; Nơi ở hiện nay: P, Nhà T, khóm T, phường A, thành phố S, t nh Đ ng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Quách Thanh S, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1950; Anh, chị, em ruột: 04 người, bị cáo là người thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1987; Con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân:
+ Bản án số 11/HSST ngày 12/4/2000 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, t nh Đ ng Tháp, xử phạt bị cáo Quách Thanh V (Quách Văn D) 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2001
+ Bản án số 09/HSST ngày 21/3/2002 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, t nh Đ ng Tháp, xử phạt bị cáo Quách Thanh V (Quách Văn D) 02 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/5/2004.
+ Bản án số 50/2007/HSST ngày 09/8/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc (thành phố S), t nh Đ ng Tháp, xử phạt bị cáo Quách Văn D 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2020
+ Bản án số 28/2008/HSST ngày 07/5/2008 của Tòa án nhân dân t nh Long An, xử phạt bị cáo Quách Văn D1 (Quách Văn D) 12 năm tù về tội “Giết người” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2020
- Tạm giữ, tạm giam: Không
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Chị Lê Thị Ngọc G, sinh năm 1997
Địa ch : Tổ D, ấp F, xã G, huyện C, t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
1/ Chị Phan Ngọc T2, sinh năm 1983
HKTT: ấp Tân Lộc B, xã Tân Dương, huyện Lai Vung, t nh Đ ng Tháp
Chỗ ở: Số 147/20/4B, khóm Hòa Khánh, Phường 2, Tp Sa Đéc, t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
2/ Anh Nguyễn Kim Q, sinh năm 2001
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện C, t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
3/ Anh Lữ Văn N, sinh năm 1992
Nơi cư trú: số G, ấp L, xã H, huyện L, t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
4/ Anh Trần Văn G1, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Số A, đường P, Phường A, Quận G, Tp (Vắng mặt)
5/ Chị Bùi Thị Bích L, sinh năm 2003
Nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện L, t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
6/ Chị Ngô Thị Thùy A, sinh năm 2000
HKTT: Khu vực T, phường T, Quận Ô, TP .
Chỗ ở: Hộ không số đường N, Khóm C, Phường A, Tp , t nh Đ ng Tháp (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 07/6/2024 Quách Văn D đang ng i uống nước tại quán “A” đường N, Khóm C, Phường A, thành phố S, cùng Nguyễn Quang H Lúc này, trong quán có khoảng 06 thanh niên khác không rõ họ, tên, địa ch cũng ng i uống nước (ng i khác bàn D), khi đang ng i uống nước thì D nhớ lại việc quán "Chợ H1", ở phường A, thành phố S do bà Lê Thị Ngọc G làm chủ, có hứa bán vỏ lon bia cho D nhưng sao đó nói bán cho người khác không bán cho D, nên D tức giận và có nói cho H nghe là sẽ đến quậy phá quán của bà G (D không kêu H cùng đi và cũng không nói cho H biết nguyên nhân đến quậy phá quán của bà G).
Sau đó, D điều khiển xe chạy đến quán "Chợ H1", lúc này H cũng tự ý điều khiển xe mô tô của H chạy theo Khi đến quán D nói với H là chuyện của D để tự Dủ tính, r i D đến dùng tay hất ngã bàn, ghế và đập phá tô, chén, dĩa, ly… của quán Xong, D đi qua quán "Cháo V1" đối diện quán "Chợ H1" cũng do bà G làm chủ tiếp tục dùng tay hất ngã bàn, ghế và đập phá tô, chén, dĩa, ly… thì được mọi người can ngăn
Do thấy D đập phá quán nên có 03 bàn khách đang ăn tại quán hoảng sợ bỏ đi không thanh toán số tiền 14 433 000 đ ng
Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: Tổng tài sản bị thiệt hại trị giá 2 570 000 đ ng
Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ:
+ Nhiều mảnh vỡ của tô, chén, dĩa, ly, ghế nhựa… của bà Lê Thị Ngọc G bị D làm hư hỏng, thì khi định giá tài sản xong Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bà G nhận xong
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7 của Dủ
+ 03 thẻ nhớ Camera của quán do bà G giao nộp, 04 đoạn video, trong đó 03 đoạn do nhân viên quán dùng điện thoại di động quay lại và 01 đoạn trích xuất từ Camera của quán do bà Phan Ngọc T2 là người quản lý quán giao nộp
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSTPSĐ ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Quách Văn D về các tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:
Căn cứ Khoản 1 Điều 178, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quách Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”
Căn cứ Khoản 1 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quách Văn D từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo phải chấp hành là 01 năm 09 tháng đến 02 năm 06 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 2 570 000 đ ng do bị cáo D nộp
Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án đối với 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ đã qua sử dụng, được niêm phong bên trong một phong bì màu trắng có chữ “Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Quách Văn D, Nguyễn Thị Minh T1 và Nguyễn Duy T3, ghi ngày 07/8/2024 thu giữ của bị cáo D.
Lưu vào h sơ vụ án 03 thẻ nhớ; 02 đĩa DVD; 04 tệp video được lưu trong 01 USB.
- Ý kiến của bị cáo Quách Văn D: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận Về hình phạt, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
- Ý kiến của bị hại chị Lê Thị Ngọc G vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có ý kiến: Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bị cáo D b i thường tài sản bị hư hỏng theo định giá số tiền là 2 570 000 đ ng và số tiền trên 03 hóa đơn bán hàng của 03 bàn khách là 14 433 000 đ ng Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xử lý theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong h sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định hình ảnh, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong h sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định như sau: Bị cáo Quách Văn D xác định nguyên nhân xuất phát từ việc mâu thuẫn trong việc mua bán vỏ lon bia mà bị cáo D đã có hành vi đập phá bàn, ghế, tô, chén, dĩa…tại hai quán "Chợ H1" và quán "Cháo V1" thuộc khóm T, phường A, thành phố S, t nh Đ ng Tháp do chị Lê Thị Ngọc G đứng tên hộ kinh doanh, tổng giá trị tài sản bị cáo thiệt hại theo định giá là 2 570 000 đ ng Hành vi của bị cáo gây hưởng đến hoạt động kinh doanh của các quán "Chợ H1" và quán "Cháo Vịt" gây rối loạn, náo động trật tự xã hội nơi công cộng
Từ những căn cứ nêu trên, đã đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo là phạm tội, đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự
Tại Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
”
Tại Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
…”
. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều sẽ bị xử lý Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân, chăm lo cho gia đình, làm tấm gương tốt để con cái noi theo; nhưng ch vì mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã có hành vi đập phá tài sản trong các quán "Chợ H1" và quán "Cháo Vịt" của chị G, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của 02 quán, gây hoang mang, bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh trật tự địa phương Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, đã 04 lần bị xét xử về các tội Cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, trộm cắp tài sản và giết người”, nay tiếp tục phạm tội Do đó, xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không Về tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội bị cáo nộp lại số tiền 2 570 000 đ ng để b i thường cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông ngoại là ông Huỳnh Văn N1 là Liệt sĩ, bà ngoại là bà Huỳnh Thị N2 là Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra bị hại chị Lê Thị Ngọc G không yêu cầu bị cáo D b i thường tài sản bị hư hỏng theo định giá số tiền là 2 570 000 đ ng và số tiền trên 03 hóa đơn bán hàng của 03 bàn khách là 14 433 000 đ ng Tại phiên tòa, bị cáo D đ ng ý nộp số 2 570 000 đ ng để b i thường cho chị G, trong trường hợp chị G không đ ng ý nhận số tiền b i thường thì bị cáo D cũng không yêu cầu nhận lại số tiền này, trong trường hợp Hội đ ng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước thì bị cáo D cũng đ ng ý, nên Hội đ ng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối số tiền 2 570 000 đ ng bị cáo D nộp khắc phục b i thường cho bị hại
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ đã qua sử dụng, được niêm phong bên trong một phong bì màu trắng có chữ “Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Quách Văn D, Nguyễn Thị Minh T1 và Nguyễn Duy T3, ghi ngày 07/8/2024 thu giữ của bị cáo D, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo D.
- Đối với 03 thẻ nhớ; 02 đĩa DVD, 04 tệp video được lưu trong 01 USB ghi lại diễn biến bị cáo đập phá quán của chị G cần lưu vào h sơ làm căn cứ giải quyết vụ án
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp nên chấp nhận
Về án phí: Bị cáo Quách Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Đối với Nguyễn Quang H lúc Dủ đập phá tài sản thì có mặt của H tại quán Ngoài ra, còn có một thanh niên không rõ họ, tên địa ch cũng tham gia đập phá tài sản và một số người khác đi bằng xe mô tô đến đậu trước quán nhưng không tham gia đập phá tài sản cùng D Hiện tại H bỏ địa phương không làm việc được, qua xác minh, cũng cho các nhân chứng xem C cũng không xác định được họ, tên, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục truy tìm Nguyễn Quang H và những người có liên quan có mặt tại quán của chị G khi D đập phá tài sản để làm rõ xử lý sau theo quy định là phù hợp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 178, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Quách Văn D 01 năm tù (Một năm tù)
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt: Bị cáo Quách Văn D 09 tháng tù (Chín tháng tù)
Căn cứ Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo phải chấp hành là 01 năm 09 tháng tù (Một năm, chín tháng tù) Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
Về xử lý vât chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2 570 000 đ ng
- Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ đã qua sử dụng, được niêm phong bên trong một phong bì màu trắng có chữ “Công an thành phố Sa Đéc” có chữ ký ghi họ tên Quách Văn D, Nguyễn Thị Minh T1 và Nguyễn Duy T3, ghi ngày 07/8/2024 thu giữ của bị cáo D.
(Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý, theo biên bản giao, nhận nhận đ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/02/2025)
Lưu vào h sơ vụ án 03 thẻ nhớ; 02 đĩa DVD, 04 tệp video được lưu trong 01 USB ghi lại diễn biến bị cáo đập phá quán của chị G.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Quách Văn D phải nộp 200 000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
| Nơi nhận: - TAND T nh; - VKSND T nh; - VKSND TP Sa Đéc; - Phòng h sơ nghiệp vụ CA T nh; - Chi cục THADS TP Sa Đéc; - Bị cáo, bị hại; - Lưu VT, h sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuấn Em |