- Tranh chấp gì? án hình sự — "bui van xi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HOÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HSST Ngày: 09/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảy Nhuận
- Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Nho Trí
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trịnh Khắc Huy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/HSST ngày 14/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: X (tên gọi khác: V), giới tính: Nam, sinh năm 1991 tại Phú Yên; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Không rõ và mẹ: Đỗ Thị T; sống chung như vợ chồng với: Nguyễn Thị S, có 02 con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án: Bản án số 48/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt bị cáo X mức án 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/3/2019 bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2019/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2025. Có mặt.
* Bị hại: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981, trú tại: Tổ dân phố T, phường B, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
X là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.
Khoảng 19 giờ ngày 05/02/2025, X cầm theo 01 kéo rồi chèo thuyền thúng của ông Nguyễn Văn Cảnh đi đến khu vực biển thuộc tổ dân phố Trà Long 1, phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa để trộm cắp hàu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, X đến khu vực nuôi hàu của ông Nguyễn Xuân Hiền dùng kéo cắt 100 dây hàu với tổng trọng lượng 388kg để vào thuyền thúng rồi cất giấu tại khu vực cầu gỗ gần đó thì bị phát hiện. Thu giữ được 388kg hàu.
Tại kết luận định giá tài sản số 07 ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 388kg hàu trên trị giá 1.940.000 đồng.
Bản cáo trạng số 45/CT-VKSCR-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo X về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo X;
Xử phạt bị cáo X mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định nên không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Đối với người tham gia tố tụng là bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cam Ranh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc bảo vệ và quản lý tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp cụ thể:
Khoảng 23 giờ ngày 05/02/2025, X đến khu vực biển thuộc tổ dân phố Trà Long 1, phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh thực hiện hành vi trộm cắp 388kg hàu của ông Nguyễn Xuân H trị giá: 1.940.000 đồng.
Bị cáo là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy, bị cáo X phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo X theo đúng tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Tòa án tuyên xử về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo X phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo X;
[2] Xử phạt: Bị cáo X 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2025.
[3]Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo X phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ – CA tỉnh Khánh Hòa; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Cam Ranh; - Chi Cục THADS Tp.Cam Ranh; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cao Nho Trí Nguyễn Thị Thanh Thủy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảy Nhuận THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảy Nhuận |