- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Xuân S phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 256a BLHS - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hồng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 27-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng tham
gia phiên toà: Bà Võ Thị Trúc Lâm – Kiểm sát viên.
Ông Lê Thế Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại tại Hội trường Trung tâm C, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST–HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Mai Xuân S, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1977 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Kiệt D T, tổ A, phường A, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Xuân N (Sinh năm: 1954) và bà Nguyễn Thị T (Sinh năm: 1955).
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 27/07/2022 bị Công an quận C, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 60/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
- Ngày 14/12/2020 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 60/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B, thời hạn 12 tháng.
- Ngày 31/10/2022 bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 41/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B, thời hạn 15 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 28/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam C. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ, ngày 08/8/2025, Mai Xuân S đi đến bờ kè đường N đối diện Khu D, thành phố Đà Nẵng để nghỉ trưa. Tại đây S gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) đang sử dụng ma túy đá phía dưới bờ kè, người này hỏi S “có chơi không” nên S đi xuống và tự dùng bật lửa để đốt nó và sử dụng khoảng 3-5 hơi rồi lấy xe đi về.
Đến 07 giờ, ngày 12/8/2025, Công an phường A, thành phố Đà Nẵng mời Mai Xuân S là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 1171/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân phường H (nay là Ủy ban nhân dân phường A) về trụ sở Công an phường để thử ma túy bằng nước tiểu. Qua thử nước tiểu S dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận được kết luận giám định, kết quả Mai Xuân S đã dương tính với ma tuý Methamphetamine, đủ cơ sở để khởi tố và ra lệnh tạm giam đối với S. Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ thi hành lệnh bắt Mai Xuân S để tạm giam, kết quả thử nước tiểu của S tiếp tục dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Mai Xuân S khai nhận khoảng 18 giờ, ngày 25/8/2025, S đi đến khu vực trước cổng Bến xe Đ thì gặp một người thanh niên không rõ lai lịch quen biết ngoài xã hội trước đây. Tại đây người này có cho S một ít ma túy đá thì S cất giấu và mang về nhà, chờ đến 22 giờ cùng ngày thì mang ra sử dụng hết.
Quá trình điều tra, Mai Xuân S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Tại bản Kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng K1
- Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Mai Xuân S tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
* Tại bản Kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K1
- Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Mai Xuân S tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Mai Xuân S về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo như sau:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Mai Xuân S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Mai Xuân S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy: - 02 đối tượng hoàn trả (vỏ chai nhựa) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2 2005507 ngày 21/8/2025 và mã số NS2 2005508 ngày 08/9/2025 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an thành phố Đ.
Tại phiên tòa, bị cáo Mai Xuân S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết hối hận và có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Mai Xuân S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Mai Xuân S là đối tượng đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 1171 ngày 14/12/2023 của Ủy ban nhân dân phường H (nay là Ủy ban nhân dân phường A), với thời hạn quản lý từ ngày 14/12/2023 đến ngày 14/12/2025. Tuy nhiên, trong thời gian chấp hành quyết định quản lý, cụ thể vào các ngày 08/8/2025 và 25/8/2025, Mai Xuân S vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi này thể hiện sự coi thường pháp luật, không tuân thủ quy định về quản lý sau cai nghiện, đồng thời trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước trong công tác đấu tranh, phòng ngừa và kiểm soát tệ nạn ma túy. Do đó, đủ cơ sở xác định Mai Xuân S đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng ban hành Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 12/9/2025 truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ vững chắc, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân và hành vi phạm tội:
Bị cáo Mai Xuân S là người đã từng nghiện ma túy, hiện đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trong thời gian chấp hành quyết định quản lý, lẽ ra bị cáo phải ý thức được trách nhiệm của mình, rèn luyện để từ bỏ ma túy, hòa nhập với cộng đồng và chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, bị cáo lại tiếp tục tái phạm, sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, xem nhẹ sự quan tâm, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình.
Về mức độ nguy hiểm cho xã hội:
Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy mà còn trực tiếp gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm khác có liên quan đến ma túy nên cần xử lý nghiêm minh giáo dục, răn đe. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ già và con còn nhỏ. Đây là trách nhiệm lớn lao nhưng cũng là điểm tựa để bị cáo nhận thức rõ hơn giá trị của tự do, của hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử nhắc nhở bị cáo cần sớm thức tỉnh, kiên quyết từ bỏ ma túy, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, trở thành người có ích, để vừa làm tròn nghĩa vụ với gia đình vừa sống có trách nhiệm với xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mai Xuân S trong thời gian ngắn đã 02 lần liên tiếp sử dụng trái phép chất ma túy vào các ngày 08/8/2025 và 25/8/2025, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết:
- 02 đối tượng hoàn trả (vỏ chai nhựa) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2 2005507 ngày 21/8/2025 và mã số NS2 2005508 ngày 08/9/2025 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an thành phố Đ là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mai Xuân S, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
Đối với người thanh niên có hành vi cho S sử dụng ma túy và người thanh niên cho S ma túy, hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập đến việc xử lý.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Mai Xuân S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 256a , điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Xuân S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 8 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 đối tượng hoàn trả (vỏ chai nhựa) được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2 2005507 ngày 21/8/2025 và mã số NS2 2005508 ngày 08/9/2025 có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an thành phố Đ.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực – Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 9 năm 2025).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Mai Xuân S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đà Nẵng;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng;
- Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng;
- Cơ quan thi hành án hình sự CA Đà Nẵng;
- Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Đà Nẵng;
- Trại tạm giam số 1, Công an TP. Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
- Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
Trần Thị Kim Ánh
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Thành phố Đ. Có mặt điểm cầu Trại tạm giam Công an thành phố Đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Hồng G, sinh năm: 1975; Địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Huỳnh Kim T1, sinh năm: 1997, địa chỉ: Tổ A, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
+ Anh Lê Văn L, sinh năm: 1990, địa chỉ: Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ , ngày 28/5/2023, K có nhu cầu sử dụng ma túy nên liên lạc với người tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 05 viên ma túy thuốc lắc với số tiền 300.000 đồng/viên và nửa hộp năm ma túy khay với số tiền 3.000.000 đồng và hẹn giao ma túy tại đường B, thành phố Đà Nẵng. K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43S9-0164 đến điểm hẹn lấy 01 bao thuốc lá hiệu Crave Demi, bên trong có khẩu trang màu trắng chứa 01 gói ma túy khay và 05 viên thuốc lắc cất giấu vào túi áo rồi đi tìm nơi sử dụng. Vào khoảng 17 giờ cùng ngày, K đến tầng hầm khách sạn S1 ở số C N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để gói ma túy xuống nền gần nơi để xe mô tô 43S9-0164 rồi đi lên thuê phòng thì bị Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an quận T bắt quả tang, thu giữ dưới nềm đất có 01 gói khẩu trang màu trắng, bên trong khẩu trang có 01 gói ni lông kích thước 04cm x 04cm chứa tinh thể màu trắng ký hiệu G1 và 01 gói ni lông kích thước 04cm x 07cm chứa 05 viên nén màu da cam hình tam giác ký hiệu G2, K khai nhận là ma túy khay và ma túy thuốc lắc của K cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, còn thu giữ một số vật chứng liên quan.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của K nhà số K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Qua thử test nước tiểu: Lê Hồng K âm tính với ma túy.
Theo Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ xác định:
+ Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong phong bì niêm phong có ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng G1: 1,490 gam
+ Mẫu viên nén trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng mẫu G2: 1,568 gam.
Vật chứng tạm giữ:
+ Qua điều tra xác định, xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 43S9-0164 số khung RLCM4P8307Y003433, số máy 003433 do ông Hoàng Nhật T3 trú: số 32 H, thành phố Đà Nẵng đứng tên chủ sở hữu mua năm 2009. Qua xác minh, ông T3 đã chuyển khẩu đi khỏi địa phương. Ngày 14/01/2020, ông Lê Hồng G mua xe từ anh Hồ Ngọc T4 (sinh năm: 1979, trú: Tổ E, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng) có giấy tờ mua bán xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 28/5/2023, K sử dụng xe để đi mua ma túy thì ông G không biết.
+ Mẫu vật hoàn trả sau kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ; 01 vỏ bao thuốc lá Craven Demi; 01 khẩu trang trắng; 01 áo khoác màu trắng có chữ Adidas; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc số imei 359218078823312, gắn sim 0899247943.
Tại Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Hồng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Hồng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hồng K mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật và mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 456/KL-KTHS ngày 02/6/2023, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 Công an thành phố Đ; 01 khẩu trang trắng; 01 áo khoác màu trắng có chữ Adidas; 01 vỏ bao thuốc lá Craven Demi.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc số imei 359218078823312, gắn sim 0899247943.
+ Trả lại cho ông Lê Hồng G 01 xe mô tô hiệu Yamaha, gắn BKS: 43S9-0164.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết hối hận và hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Hồng K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 28/5/2023 tại tầng hầm khách sạn S1 số C N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Lê Hồng K có hành vi tàng trữ trái phép 1,490 gam ma túy loại Ketamine và 1,568 gam ma túy MDMA mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang.
Do đó hành vi của Lê Hồng K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số số 105/CT-VKS ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Hồng K có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân nên bị cáo đã phạm tội.
Do vậy, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết:
- Mẫu vật và mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 456/KL-KTHS ngày 02/6/2023, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 Công an thành phố Đ là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 khẩu trang trắng; 01 vỏ bao thuốc lá Craven Demi là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 áo khoác màu trắng có chữ Adidas là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ;
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc số imei 359218078823312, gắn sim 0899247943 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha, gắn BKS: 43S9-0164 không liên quan đến việc bị cáo phạm tội nên trả lại cho ông Lê Hồng G.
Đối với người tên T2 bán ma tuý cho Lê Hồng K, do chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 5 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Mẫu vật và mẫu ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 456/KL-KTHS ngày 02/6/2023, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 Công an thành phố Đ;
+ 01 khẩu trang trắng;
+ 01 vỏ bao thuốc lá Craven Demi;
+ 01 áo khoác màu trắng có chữ Adidas;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc số imei 359218078823312.
Trả lại cho ông Lê Hồng G 01 xe mô tô hiệu Yamaha, gắn BKS: 43S9-0164.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2023).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Hồng K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo Lê Hồng Khánh, người TGTT; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận Thanh Khê; - Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Ánh |