vanban.org

Bản án 48/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 17/9/2024. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – CẦN THƠ
Bản án số: 48/2025/HS-ST
Ngày: 29/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lai Ngọc Trí

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Thu- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Bùi Hải Đạt- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLHS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 863/2025/QĐXXST-HS ngày 16/9/2025 đối với bị cáo:

Phạm Minh T, tên gọi khác: không; Sinh ngày 13 tháng 02 năm 2000 tại C. Nơi cư trú: Ấp N, xã N, thành phố C. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1975 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975 (chết); Bị cáo không có anh, chị, em ruột; Chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/9/2024 chuyển tạm giam ngày 26/9/2024. Ngày 29/11/2024 bàn giao bị cáo cho Trung tâm pháp y tâm thần T để chữa bệnh bắt buộc. Ngày 29/4/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N thuộc Trại tạm giam số 1 Công an thành phố C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Nguyễn Thị H – Công ty L – Thuộc Đoàn luật sư thành phố C.

Địa chỉ: Số B, đường A, khu vực T, phường H, thành phố C. (có mặt)

* Bị hại: Ông Sơn Hoàng D, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh C.

*Người làm chứng

1. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 2002 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh C.

2. Ông Nguyễn Song P1, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh C.

3. Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/09/2024, ông Sơn Hoàng D tan ca về đến nhà trọ số A T, phường H, quận N, thành phố C (nay là phường T, thành phố C) đậu xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển số 69D1-3XX.XX rồi đi vào phòng thay đồ. Khoảng 15 phút sau bị cáo Phạm Minh T đi đến nhìn thấy xe ông D có gắn sẵn chìa khóa, không ai trông coi, nên nảy sinh ý định lấy trộm xe làm phương tiện đi lại. Bị cáo đi bộ lại leo lên xe, bật chìa khóa nguồn, nổ máy chạy thẳng vào trong hẻm. Bị cáo chạy được một đoạn đến hẻm cùng nên quay xe chạy ngược trở lại thì bị ông D, ông Nguyễn Thanh P và ông anh Nguyễn Song P1 phát hiện đứng chặn bị cáo. Lúc này, bị cáo điều khiển xe tông thẳng vào nhóm của ông D rồi té ngã xuống đường nên ông D, ông P và ông P1 cùng nhau khống chế bị cáo giao cho Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng tạm giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Blade, biển số 69D1-3XX.XX, màu xanh đen, số máy JA36E064XXXX, số khung 3657GY13XXXX.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 2081/KL-HĐĐG ngày 23/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận N, thành phố C xác định: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Blade, biển số 69D1-3XX.XX, màu xanh đen, số máy JA36E064XXXX, số khung 3657GY13XXXX, dung tích xilanh 109 cm, đăng ký lần đầu ngày 20/07/2018. Tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng, giá trị 11.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định bị cáo Phạm Minh T có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định tại Trung tâm pháp y tâm thần T.

Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 484/2024/KLGĐ ngày 21/11/2024 của Trung tâm P2, kết luận:

“a) Kết luận theo tiêu chuẩn y học:...

- Trước, trong và sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản xảy ra khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/9/2024: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3-ICD 10), giai đoạn bệnh thuyên giảm..

- Hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3-ICD 10), giai đoạn bệnh cấp tính.

b) Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi

- Tại thời điểm thực hiện vụ trộm cắp tài sản xảy ra khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/9/2024: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh thuyên giảm...

Hiện tại: Đương sự mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh cấp tính”.

Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và đã bàn giao bị cáo T đến Bệnh viện tâm thần T để điều trị bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01 ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu (sau thời gian bắt buộc chữa bệnh) số 140/2025/KLGĐ ngày 29/4/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần T xác định tình trạng bệnh của bị cáo Phạm Minh T như sau:

“Bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3 – ICD 10).

- Hiện nay bệnh đã ổn định, không cần thiết bắt buộc chữa bệnh nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật”

Đối với xe mô tô hiệu Honda Blade, màu xanh đen, biển số 69D1-3XX.XX, số máy JA36E064XXXX, số khung 3657GY13XXXX, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho ông Sơn Hoàng D, ông D đã nhận lại xong không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS KV1 ngày 22/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Phạm Minh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 173, điểm i, l, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự và đề nghị mức án đối với bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét.

* Bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

* Luật sư Nguyễn Thị H trình bày: Thống nhất hành vi của bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, tuy nhiên do bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và đề nghị áp dụng hình phạt từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy: Qua phần kết quả xét hỏi công khai và tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác và có căn cứ.

[3] Xét thấy: Bị cáo là người đã thành niên,

Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 484/2024/KLGĐ ngày 21/11/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần T, kết luận:

“…b) Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi

- Tại thời điểm thực hiện vụ trộm cắp tài sản xảy ra khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/9/2024: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh thuyên giảm...

Hiện tại: Đương sự mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh cấp tính”.

Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và đã bàn giao bị cáo T đến Bệnh viện tâm thần T để điều trị bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01 ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu (sau thời gian bắt buộc chữa bệnh) số 140/2025/KLGĐ ngày 29/4/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần T xác định tình trạng bệnh của bị cáo Phạm Minh T như sau:

“Bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3 – ICD 10).

- Hiện nay bệnh đã ổn định, không cần thiết bắt buộc chữa bệnh nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật”. Do đó, bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục giúp bị cáo thay đổi nhận thức sống, biết đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp những tội phạm tương tự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh thuyên giảm và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, l, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Từ những phân tích trên nhận thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm i, l,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 17/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ