- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Bùi Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 12 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tâm
2. Ông Nguyễn Văn Truy
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST – HNGĐ ngày 12/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T; sinh năm: 1994
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Anh Bùi Văn C; sinh năm: 1990
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà vắng mặt chị T và anh C (Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lí do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được gia đình 2 bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2020 tại UBND xã T, huyện T (nay là UBND xã T), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình cả hai không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 31/12/2020 và cháu Bùi Huyền A, sinh ngày 26/04/2023. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huyền A, giao cháu Khánh V cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Bùi Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị T kết hôn tự nguyện, được gia đình 2 bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2020 tại UBND xã T, huyện T (nay là UBND xã T), tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp nên có nảy sinh một số vấn mâu thuẫn. Đến nay, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị T
Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 31/12/2020 và cháu Bùi Huyền A, sinh ngày 26/04/2023. Sau khi ly hôn, anh C có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Khánh V, giao cháu Huyền A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản: Anh C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn C. Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 31/12/2020 cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Bùi Huyền A, sinh ngày 26/04/2023 cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Bùi Văn C. Anh C cư trú tại Thôn T, xã T, huyện T (N là xã T), tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh C vắng mặt không có lí do, nên tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh C và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh C theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh C đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh C đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Anh C cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh C.
. Về hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Bùi Văn C kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/01/2020 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện T (nay là UBND xã T), tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì vợ, chồng sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Cả chị T và anh C đều có yêu cầu ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị T và anh C đa rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nên căn cứ điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh C.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Khánh V, sinh ngày 31/12/2020 và cháu Bùi Huyền A, sinh ngày 26/04/2023. Khi ly hôn, chị T và anh C đều có nguyện vọng giao cháu Huyền A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Khánh V cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện nay, cháu Khánh V đang ở cùng bố, cháu Huyền A đang ở cùng mẹ và cháu Huyền A chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó yêu cầu của chị T và anh C là chính đáng và hợp pháp. Vì vậy, HĐXX xét thấy nên giao cháu Khánh V cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Huyền A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
. Về tài sản: Chị T và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật. Số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí được trừ vào số tiền án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Bùi Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh V, sinh ngày 31/12/2020 cho anh Bùi Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Bùi Huyền A, sinh ngày 26/04/2023 cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Đinh Thị T và anh Bùi Văn C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Thanh Hóa, theo biên lai số 0001585 ngày 15/10/2025. Chị Đinh Thị T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đinh Thị T và anh Bùi Văn C. Chị Đinh Thị T và anh Bùi Văn C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 7 – Thanh Hóa; - UBND xã Thành Vinh; - THAD tỉnh Thanh Hoá; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Nguyễn Thị Tường Vân Lê Văn Hoàn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Nguyễn Mạnh Thìn Trần Thị Dần | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Bùi Văn Hải Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Văn Hải Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Văn Hải |