- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào Điều 51,56; khoản 1 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 1 Điều 84; Điều 122; 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 - 9 - 2025 V/v “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng - ông Cao Đức Giang
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Trung - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Nghệ An: Bà Hoàng Thị Thanh - Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số: 30/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025 về Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 119/2025/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:: Cao Thị O, sinh năm 1995
Địa chỉ cư trú: xóm 10, xã Diễn Thành (nay là xã Diễn Châu), tỉnh Nghệ An ((ccóó mmặặtt));;
- Bị đơn: Đậu Văn Q, sinh năm 1994
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm 10, xã Diễn Thành (nay là xã Diễn Châu), tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Đài Loan (vắng mặt).
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đậu Công Thành, sinh năm 1958, bà Nguyễn Thị Bốn, sinh năm 1958 (có mặt).
Đều trú tại: Xóm 10, xã Diễn Thành (nay là xã Diễn Châu), tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Cao Thị O trình bày: Chị và anh Đậu Văn Q trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau tự nguyện làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 08/10/2019 tại UBND xã Diễn An (nay là xã An Châu), tỉnh Nghệ An. Sau khi cưới về được một thời gian thì 2 vợ chồng cùng sang Đài Loan để xuất khẩu lao động, sang được 7 tháng thì chị có thai nên chị về Việt Nam trước còn anh Q ở lại. Sau khi về sinh con được 22 tháng thì chị lại sang Đài Loan tiếp tục làm ăn kiếm tiền để nuôi con. Trong thời gian chị ở nhà sinh con tình cảm giữa chị và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu, anh Q thì nghe mẹ đẻ nên mỗi lần nghe mẹ đẻ gọi sang thì anh Q lại gọi về chửi bới trách móc chị dẫn đến tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bên cạnh đó do khoảng cách về địa lý nên vợ chồng lại càng không hiểu nhau. Chị sang Đài Loan không gặp và cũng không liên lạc gì với anh Q. Con chung vợ của vợ chồng chị mang về bà ngoại nuôi ăn học được 1 năm, khi chị đi được một năm thì ông bà nội (bố mẹ anh Q) vào đón con của chị với anh Q về nuôi hơn một năm, trong thời gian con chung ở với ông bà nội chị vẫn gửi tiền về cho ông bà nuôi. Đến tháng 5 năm 2025 chị về Việt Nam chị đón con về ngoại ở và chị vẫn để con đi lại giữa 2 bên gia đình. Mâu thuẫn xảy ra 2 bên gia đình cũng đã khuyên nhủ nhưng không thành. Nay chị xác định hai bên không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
-Về con chung: Chị và anh Đậu Văn Q có 01 con chung là Đậu Thị Minh Nguyệt, sinh ngày 21/11/2020, hiện nay con chung đang ở với chị. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con.
-Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
+/ Đối với bị đơn anh Đậu Văn Q: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã triệu tập, niêm yết tống đạt hợp lệ cũng như tống đạt qua người thân là bố mẹ đẻ của anh Q là ông Thành, bà Bốn các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Q đến Toà án giải quyết, ông bà cam kết đã thông báo và giao lại cho anh Q thông qua gọi điện qua các trang Facebook, điện thoại để anh Q được biết việc Toà án đang giải quyết ly hôn giữa chị O và anh Q. Đồng thời sau khi người thân của anh Q cho biết anh Q hiện đi Đài Loan nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể, Toà án đã ban hành công văn số: 304 ngày 28/7/2025 gửi Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Nghệ An yêu cầu cung cấp anh Q xuất cảnh vào thời gian nào? sử dụng hộ chiếu nào (số hộ chiếu), lý do xuất cảnh? Đến quốc gia nào? Qua cửa khẩu nào? Nhập cảnh về Việt Nam thời gian nào? qua của khẩu nào? Ngày 06 tháng 6 năm 2025, Phòng quản ly xuất nhập cảnh Công an tỉnh Nghệ an đã có công văn trả lời số:3195/PA08 - Đ1 hiện anh Q đã sử dụng hộ chiếu xxxxxxxx để xuất cảnh vào ngày 16 tháng 10 năm 2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó anh Q không có mặt tại địa phương và không đến Toà án làm việc mặc dù đã được Toà án niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định vì vậy Toà án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không ghi được ý kiến của anh Q. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn chị O cung cấp và Toà án thu thập thì về quan hệ hôn nhân, con chung đúng như nguyên đơn chị O đã trình bày.
Tại phiên toà và biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên ông Đậu Văn Thành và bà Nguyễn Thị Bốn trình bày
Anh Q là con trai của ông bà, chị O là con dâu, việc vợ chồng kết hôn là tự nguyện được 2 bên gia đình cưới hỏi đàng hoàng, trong cuộc sống ông bà thương con thương cháu hết mực, thu vén cho vợ chồng để vợ chồng đi làm ăn kinh tế ông bà không mong muốn vợ chồng con cái ly hôn nhưng nay chị O làm đơn tại Toà yêu cầu giải quyết ly hôn với con trai của ông bà ,ông bà không có ý kiến gì vì đây là việc của vợ chồng ông bà không can thiệp. Ông bà chỉ có nguyện vọng được nuôi cháu nếu theo quy định của pháp luật ông bà không được nuôi cháu thì ông bà cũng chấp hành để cho chị O nuôi cháu nhưng vào ngày nghỉ, lễ ông bà muốn chị O tạo điều kiện cho ông bà được đón cháu về ông bà chơi, trước khi đón cháu ông bà sẽ gọi điện báo trước cho chị O. Tại phiên toà ông bà và chị O đã thống nhất được việc này, chị O cũng đã viết bản thảo thuận nên ông bà không yêu cầu Toà xem xét nữa. Còn về tài sản ông bà không liên quan. Ngoài ra ông bà không trình bày gì thêm và cam kết chịu trước pháp luật về việc đã thông báo cho con trai về các văn bản tố tụng của Toà tống đạt đối với việc giải quyết ly hôn giưua chị O và anh Q con trai của ông bà.
Ý kiến trình bày của chị Cao Thị O tại phiên toà:
Chị đồng ý với nguyện vọng của ông Thành, bà Bốn là vào ngày nghỉ, lễ cho ông bà đón cháu về chơi nhưng trước khi đón thì ông bà gọi báo cho chị để chị được biết và chị cùng ông bà đã thống nhất với nhau nên chị đã viết bản thoả thuận riêng gửi cho ông bà về việc này nên các bên không yêu cầu Toà xem xét nữa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì;
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Căn cứ vào Điều 51; 56; khoản 1 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 1 Điều 84; Điều 122; 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân & Gia đình; căn cứ khoản 3 Điều 35; Điều 147; 207; 228; 273; 469; 478 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Nghị quyết số: 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân nhân và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Cao Thị O được ly hôn với anh Đậu Văn Q.
-Về con chung: Giao con chung là Đậu Thị Minh Nguyệt, sinh ngày 21/11/2020 cho chị Cao Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Đậu Văn Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
*Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự chưa yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Chị Cao Thị O phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; chị O nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đậu Văn Q hiện đang cư trú tại Đài Loan, trước khi xuất cảnh anh Q có địa chỉ cư trú tại xóm 10, xã Diễn Thành (nay là xã Diễn Châu), tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An theo Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số: 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Nghị quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân;
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị O có mặt, bị đơn anh Đậu Văn Q vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Đậu Văn Q kết hôn vào ngày 08/10/2019 tại UBND xã Diễn An (nay là xã An Châu), tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị O và anh Q được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ theo quy định của định pháp luật. Do đó hôn nhân giữa chị O và anh Q là hôn nhân hợp pháp.
-Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị O nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống thiếu tin tưởng và không quan tâm đến nhau. Hiện tại, chị O xin ly hôn anh Q đã sống ly thân. Sau khi thụ lý, Toà án đã niêm yết và tóng đạt hợp lệ cho anh Q nhưng anh Q vắng mặt không có lý do, sau đó Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bố mẹ anh Q ông Đậu Văn Thành và bà Nguyễn Thị Bốn là bố mẹ đẻ; ông bà cam kết thông báo lại cho anh Q, tuy nhiên trong quá trình giải quyết anh Q vẫn vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh Q không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng.
Xét mâu thuẫn giữa chị O và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân & Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn cho chị Cao Thị O được ly hôn với anh Đậu Văn Q.
. Về con chung: Chị O, anh Q có 01 con chung là cháu Đậu Thị Minh Nguyệt, sinh ngày 21/11/2020. Xét chị O có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con, Hội đồng xét xử thấy:
Chị O hiện có công việc, thu nhập ổn định, bên cạnh chị còn có cha mẹ, người thân bên ngoại hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần nên đảm bảo điều kiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Mặt khác con chung hiện đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc, gần gũi của chị O. Quá trình giải quyết vụ án anh Q vắng mặt không thể hiện nguyện vọng được nuôi con mặc dù bố mẹ anh Qý là ông Thành bà Bốn đều có nguyện vọng nuôi cháu tuy nhiên hiện nay chị O đang có mặt tại Việt Nam không đi làm ăn xa, bên cạnh chị có gia đình, người thân hỗ trợ cho mẹ con vì vậy việc giao con cho anh Q sẽ không đảm bảo quyền lợi của con chung. Do đó để tạo điều kiện tốt nhất cho con chung của vợ chồng, áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân & Gia đình cần tiếp tục giao con chung cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với thực tế phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị O không yêu cầu anh Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử miễn xét.
*Đối với nguyện vọng được đưa đón cháu Đậu Thị Minh Nguyệt về chơi ngày nghỉ, lễ của ông Thành, bà Bốn. Các bên đã tự thống nhất thoả thuận với nhau và chị O đã gửi bản thoả thuận cho ông bà và các bên không yêu cầu Toà giải quyết việc này nên Hội đồng xét xử miễn xét.
. Về tài sản chung và nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Chị Cao Thị O tự nguyện một mình chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào Điều 51,56; khoản 1 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 1 Điều 84; Điều 122; 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân & Gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 35; Điều 147; 207; 228; 273; 469; 478 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Nghị quyết số: 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân nhân và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
[2]. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị O
-Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị O được ly hôn anh Đậu Văn Q.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung là cháu Đậu Thị Minh Nguyệt, sinh ngày 21/11/2020 cho chị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Đậu Văn Q có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha mẹ hoặc tổ chức cá nhân theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân & Gia đình Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự chưa yêu cầu
[3]. Về án phí: Chị Cao Thị O tự nguyện chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị O đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000451, ngày 16/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị O đã nộp đủ án phí
[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND khu vực 3;
- Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- UBND xã Diễn Châu;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Lê Thị Nhung
THTHÀÀNNHH VVIIÊÊNN
TTHHẨẨMM PPHHÁÁNN
HỘHỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ
CCHHỦỦ TTỌỌAA PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA NgNguuyyễễnn VVăănn DDũũnngg
CCaaoo ĐĐứứcc GGiiaanngg
LLêê TThhịị NNhhuunngg
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 3; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Nhung |