- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Mùi ly hôn ông Nguyễn Đình Diên"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2025/HNGĐ - ST Ngày: 23 - 4 - 2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoài Đức Huệ
Ông Trần Văn Điệp
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn– Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 496/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01/4/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991.
Hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã X, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ liên lạc: Nhà trọ ông Dương Duy T, khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1989.
Hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ liên lạc: Nhà trọ ông Dương Duy T, khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Chị M và anh D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2024 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình D xây dựng gia đình với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2010. Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Nguyên nhân chị M yêu cầu ly hôn là do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Mạnh Q, sinh ngày 13/5/2011 và cháu Nguyễn Thị Trâm A, sinh ngày 23/5/2023. Nếu ly hôn, chị M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị M khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị M khai không có.
Bị đơn anh Nguyễn Đình D vắng mặt, không đến Toà cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh D. Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Đình Mạnh Q và cháu Nguyễn Thị Trâm A cho chị M được quyền nuôi dưỡng, tạm thời anh D không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Đình D tạm trú tại khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M và anh D.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình D và chị Nguyễn Thị M xây dựng gia đình với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2010, việc kết hôn do cả hai đều tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị M xin ly hôn với anh D với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Xét thấy, qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N thể hiện địa phương không xác định được nguyên nhân tranh chấp ly hôn giữa chị M và anh D. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh D biết để đến Tòa tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh D vẫn không đến Tòa mà không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải cho vợ chồng anh D và chị M đoàn tụ. Qua ý kiến của chị M thể hiện chị M và anh D chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc nhau là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị M và anh D có 02 người con chung là cháu Nguyễn Đình Mạnh Q, sinh ngày 13/5/2011 và cháu Nguyễn Thị Trâm A, sinh ngày 23/5/2023. Chị M yêu cầu được nuôi con chung và anh D không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Q và cháu T1 cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chị M không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét
Về tài sản chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9 và Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của chị Nguyễn Thị M đối với anh Nguyễn Đình D.
Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Đình D.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đình Mạnh Q, sinh ngày 13/5/2011 và cháu Nguyễn Thị Trâm A, sinh ngày 23/5/2023 cho chị Nguyễn Thị M nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm thời anh Nguyễn Đình D không cấp dưỡng con.
Anh Nguyễn Đình D được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0022433 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nhơn Trạch; - Chi cục THADS huyện Nhơn Trạch; - UBND xã Thanh Nho, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Lâm |