vanban.org

Bản án 48/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim D và bị đơn ông Lê Trung D1 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim D được ly hôn đối với ông Lê Trung D1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HO THI KIM D - LE TRUNG D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Trí.

Ông Thái Bình Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 406/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim D, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số X, đường Y , Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Trung D1, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Số X, đường Y , Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D trình bày:

Bà Hồ Thị Kim D và ông Lê Trung D1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hiệp Thành, thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận số 77, quyển số 01/2009, ngày 22/6/2009. Quá trình sống chung, có 02 người con chung là Lê Kim Thiện Y, sinh ngày 07/12/2009 và Lê Kim Quỳnh N, sinh ngày 20/7/2014. Sau khi kết hôn, bà D và ông D1 sinh sống tại địa chỉ số 126/7, đường Yersin, Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống đời sống gia đình giữa vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay, bà D và ông D1 đã không còn quan hệ vợ chồng, tình cảm thương yêu đã không còn, đời sống gia đình không còn hạnh phúc. Mặc dù sống chung nhà Nng vợ chồng không còn quan tâm, mạnh ai nấy sống không có yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, bà D nhận thấy tình trạng mâu thuẫn giữa bà D và ông D1 không thể hàn gắn nên bà D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà D ly hôn với ông D1. Về con chung bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Kim Thiện Y và Lê Kim Quỳnh N, không yêu cầu ông D1 cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông Lê Trung D1: Ông D1 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lY vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên họp Nng ông D1 không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không gửi Y kiến bằng văn bản phản đối yêu cầu ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng theo yêu cầu của bà D. Tòa án ban hành và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa Nng ông D1 cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lY, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư kY đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội D, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Y kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D khởi kiện tranh chấp yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Lê Trung D1. Bị đơn ông Lê Trung D1 có đăng ký thường trú tại phường h, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Căn cứ theo quy định pháp luật thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Lê Trung D1 vắng mặt lần 2. Do đó, căn cứ Điều 228, Khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội D:

Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D và bị đơn ông Lê Trung D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kY kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà D yêu cầu được ly hôn với ông D1 vì cho rằng trong quá trình chung sống không thể hòa hợp trong cuộc sống hằng ngày, mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài, không thể hàn gắn và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Ông D1 không chăm lo cho cuộc sống gia đình, tính tình vợ chồng không hợp nhau, thiếu sự tôn trọng, quan tâm. Quá trình sống chung bà D đã nhiều lần nộp đơn ly hôn Nng sau đó rút đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông D1 để hàn gắn tình cảm gia đình, tuy nhiên mâu thuẫn gia đình vẫn không giải quyết được. Theo biên bản xác minh thì đại diện chính quyền địa phương nơi bà D và ông D1 cư trú tại phường H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương không nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn gia đình của bà D và ông D1, đồng thời cũng không ghi nhận được tình trạng mâu thuẫn cụ thể của bà D và ông D1. Tuy nhiên, tình cảm gia đình phải được vun đắp từ hai phía, cả hai phải quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau để gây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, mục đích hôn nhân hạnh phúc của bà D và ông D1 đã không đạt được, vợ chồng đã không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết, ông D1 mặc dù đã được thông báo về việc bà D có yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con tại Tòa án Nng ông D1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình, vắng mặt hoặc có đơn trình bày lY do bất khả kháng để không đến Tòa án tham gia tố tụng. Xét thấy, bà D cho rằng cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn và không có nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Hồ Thị Kim D và bị đơn ông Lê Trung D1 có con chung là cháu Lê Kim Thiện Y, sinh ngày 07/12/2009 và Lê Kim Quỳnh N, sinh ngày 20/7/2014. Xét thấy, bà D có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Y và cháu N vì cho rằng ông D1 không có công việc ổn định, không quan tâm chăm sóc gia đình, con cái. Xét thấy, bà D có công việc và mức thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, giao cháu Lê Kim Thiện Y và Lê Kim Quỳnh N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Trung D1 có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm con con chung. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi bà D hoặc ông D1 có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 228, Khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lY và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim D và bị đơn ông Lê Trung D1 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim D được ly hôn đối với ông Lê Trung D1.

- Về con chung: Bà Hồ Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Lê Kim Thiện Y, sinh ngày 07/12/2009 và Lê Kim Quỳnh N, sinh ngày 20/7/2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết.

Ông Lê Trung D1 có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Hồ Thị Kim D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào toàn bộ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/24 0003243 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo luật định./.

Cỡ chữ