- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Tr ly hôn với Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-3-2025 V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Việt Hồng Phượng;
2. Bà Mai Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 346/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/02/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị T, sinh năm 2000 (có đơn xin vắng mặt);
Cư trú: Tổ C, ấp H, xã H, C, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp H, xã H, C, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lương Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, chị và anh Trần Văn H quyết định chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, An Giang ngày 16/10/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình chồng. Cuộc sống hạnh phúc được đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H không tôn trọng chị và còn thường xuyên chửi mắn, đánh đập chị. Vợ chồng luôn bất hòa do bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, vợ chồng chị còn sống chung với gia đình anh chị ba của anh H, chị em dâu chung một nhà, cuộc sống không hòa thuận, mâu thuẫn gia đình xảy ra thường xuyên. Vì không chịu nổi cuộc sống chung như thế, nên chị T đã chở con bỏ đi về nhà mẹ ruột để sinh sống từ tháng 05/2024. Vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân anh H có đến năn nỉ để hàn gắn tình cảm, nhưng anh chị không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh H. Cha mẹ hai bên cũng không hàn gắn cho vợ chồng. Nay chị T đã không còn tình cảm, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 13/9/2021. Hiệu cháu T1 đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu T1, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Tự vợ chồng thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Trần Văn H: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa hai người, nhưng anh H đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị T: Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa;
- Bị đơn anh H: Vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Trần Văn H; về con chung: giao cháu Trần Thị Thanh T1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Lương Thị T và anh Trần Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 10 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H. Anh H đăng ký thường trú tại xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lương Thị T xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm, đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh H.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, vợ chồng anh chị đã ly thân gần 01 năm nay. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh H theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh H vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh H đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị T đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị T.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Lương Thị T là được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị T thừa nhận giữa chị và anh H có 01 con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 13/9/2021. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Thanh T1 là con chung của chị T và anh H. Hiện cháu T1 đang sống với mẹ. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi ly thân, cháu T1 đã sống với mẹ. Hơn nữa, cháu T1 là con gái nên sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ sẽ phù hợp hơn. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của các cháu, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lương Thị T là giao cháu Thanh T1 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Anh Trần Văn H có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Do chị Lương Thị T có yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lương Thị T. Cho ly hôn giữa chị Lương Thị T đối với anh Trần Văn H.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 13/9/2021 là con chung của chị Lương Thị T và anh Trần Văn H;
+ Tiếp tục giao cháu Trần Thị Thanh T1 cho chị Lương Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu T1 đang sống chung với chị T); anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu;
+ Chị Lương Thị T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004966 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị T đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lương Thị T và anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND.Châu Thành; - Chi cục THADS.Châu Thành; - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn; - Phòng TT, KT và THA; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |