vanban.org

Bản án 48/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn QuíP 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 19/10/2023. Buộc bị cáoP phải nộp truy thu 8.000.000đồng tiền thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNHP H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48 /2024/HSST
Ngày 21/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B , THÀNHP H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chu Trần Vĩnh

Bà Trần Thu Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt, là thư ký Tòa án nhân dân quận B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B , thànhP H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B , thànhP H , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 374/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40 /2024/QĐ- ST ngày 08 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Quí P , sinh ngày 15/10/2003; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: Thôn X, xã K huyện S, Thành phố H ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quí M; Con bà: Nguyễn Thị T; Vợ: Chưa có; Danh bản, chỉ bản số 555 lập ngày 24/10/2023 tại công an quận B ; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị từ ngày 19/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam số 1 – Công an ThànhP H .

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Đình B , sinh ngày 11/11/2002; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: Thôn X, xã K, huyện S, Thành phố H ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình H; Con bà: Nguyễn Thị T; Vợ: Chưa có; Danh bản, chỉ bản số 580 lập ngày 24/10/2023 tại công an quận B ; Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

- Ngày 15/10/2019, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Thời điểm phạm tội 16 tuổi 4 tháng 15 ngày)

- Ngày 05/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Thời điểm phạm tội 16 tuổi 6 tháng 22 ngày)

Tổng hợp hình phạt của hai bản án trên, theo Quyết định số 02 ngày 01/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn là 18 tháng. Chấp hành xong hình phạt ngày 10/12/2020 (đã được xóa án tích theo quy định tại điều 107 BLHS đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng).

Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Công an Tỉnh V theo lệnh tạm giam số 32 ngày 06/3/2024 của VKSND Thành phố V .

(Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

1. Anh Nguyễn Khắc D , sinh năm 1988 HKTT: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái B . (Vắng mặt tại phiên toà)

2. Anh Vũ Văn L , sinh năm 1978 HKTT: Xóm 8, xã Đ, huyện N, tỉnh N (Vắng mặt tại phiên toà)

3. Anh Nguyễn Việt C , sinh năm 1991 HKTT: Khối Ga, Thị Trấn Y, huyện G, Thành phố H . ( Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/4/2023, tại nhà trước cửa hàng hoa quả số 158 đường H, phường C, quận B , Thành phố H , Nguyễn Đình B cùng Nguyễn Hữu Đ (SN 2003; HKTT: thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, thành Phố H ) bị anh Nguyễn Khắc D (SN 1988) và anh Nguyễn Văn G (SN 1986) cùng HKTT: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái B phát hiện khi đang thực hiện hành vi trộm cắp xe máy HondaWave màu xanh, đen, bạc BKS 29L1 – 758.56 của anh D. Khi bị phát hiện Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe máy Honda Wave BKS 36B8-766.51 chở Nguyễn Đình B bỏ chạy. Lúc này tổ công tác công an phường Cổ Nhuế 1 làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn nghe tiếng hô “Cướp...” đã bắt giữ được Đ, còn B bỏ chạy thoát. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu Đ khai nhận: ngoài trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Đình B , Đ còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác cùng Nguyễn Quí P. Tuy nhiên, quá trình điều tra, B ,P vắng mặt tại nơi cư trú, do đó ngày 11/4/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B khởi tố Nguyễn Hữu Đ về tội Trộm cắp tài sản và ra Quyết định tách tài liệu đối với B , P để tiếp tục điều tra, xử lý sau. Ngày 27/7/2023, Tòa án nhân dân quận B , thành phố H đã tuyên phạt Nguyễn Hữu Đ 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 19/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Quí P , còn Nguyễn Đình B đang bị tạm giam ở vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh V .

Ngày 20/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quí P tại thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Đ, thành phố H không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra xác định:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Hữu Đ đã cùng Nguyễn Đình B , Nguyễn Quí P thực hiện các vụ trộm cắp xe máy, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 14/02/2023, Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe Honda Wave anpha màu đen (không lắp biển kiểm soát) chở Nguyễn Qúi P đi trộm cắp xe máy. Khi đi đến quán phở Cồ số 227 Lâm Tiên, thị trấn Đg Anh, huyện Đ, thành phố H thì phát hiện xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 18K1-47303 của anh Vũ Văn L (SN 1978; HKTT: xóm 8 xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) đang để trên vỉa hè cạnh cửa hàng phở nhưng không có người trông giữ nên Đ dừng xe cách 4-5 mét, còn P đi bộ quay lại dùng vam phá khóa xe trộm cắp chiếc xe trên. Sau khi lấy trộm xe máy, P mang xe đi bán được 8.000.000 đồng, Đ và P chia đôi mỗi người được 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng hiện chưa thu giữ được xe.

Quá trình điều tra xác định đăng ký chiếc xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 18K1-47303, số khung RLHJA3924NY087322, số máy JA39E2584284 mang tên chính chủ anh Vũ Văn L. Anh L đã được nhận bồi thường của Nguyễn Hữu Đ và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Vụ thứ hai: Ngày 18/3/2023, cũng với thủ đoạn như trên, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Qúi P đi đến thôn Tiên Hội, xã Đ, huyện Đ, Thành phố H thì thấy xe máy Honda Wave màu xanh bạc BKS 29S2-125.83 của anh Nguyễn Việt C (SN 1991; HKTT: Khối Ga, thị trấn Yên Viên, huyện Gia Lâm, thànhP H ) dựng ở khu vực cây xăng thôn Tiên Hội không có người trông giữ. Đ dừng xe lại cảnh giới còn P đi bộ đến dùng vam phá khóa chiếc xe máy trên sau đó P mang xe đi bán được 8.000.000 đồng, Đ vàP chia đôi mỗi người được 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng hiện chưa thu giữ được chiếc xe trên.

Quá trình điều tra xác định đăng ký chiếc xe máy Honda Wave màu xanh bạc BKS 29S2-125.83, số khung RLHJA392XNY462727, số máy JA39E2897109 mang tên anh Hoàng Mạnh Hiếu (SN 2004; HKTT: Thái B , Mai Lâm, huyện Đ, Thành phố H ). Ngày 18/3/2023, anh Nguyễn Việt C mượn của anh Hiếu để đi lại thì bị mất, anh C đã đền bù số tiền 18.000.000 đồng cho anh Hiếu, anh Hiếu đã làm thủ tục bán lại xe cho anh C nên anh Hiếu không có yêu cầu đề nghị gì. Sau đó, anh C đã được Nguyễn Hữu Đ bồi thường nên anh C không có yêu cầu gì khác.

Đối với 02 vụ trộm cắp tài sản trên, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ có quan điểm: do trước đó cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B đã khởi tố và điều tra đối với 02 vụ án này nên đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B tiếp tục điều tra làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn QuíP .

Vụ thứ 3: Ngày 02/4/2023, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Đình B hẹn gặp nhau tại đình làng thôn Xuân Dương, xã Kim Lũ, huyện Só c Sơn, thành phố H để cùng đi trộm cắp xe máy. Đ sử dụng xe máy Honda Wave không lắp biển kiểm soát, số khung RLHJA3912LY260033, số máy JA39E-1597902 đến gặp B . Đ chở B ngồi sau đi lang thang tìm nơi trộm cắp. Khi đi đến số nhà 158 Hoàng Quốc Việt, phường Cổ Nhuế 1, quận B , thành phố H , cả hai phát hiện xe máy Honda Wave BKS 29L1-758.56 của anh Nguyễn Khắc D không có người trông giữ. Đ dừng xe cách khoảng 4-5 mét để đứng cảnh giới, còn B đi bộ quay lại dùng vam phá ổ khóa xe trộm cắp. Khi B đang phá khóa xe thì bị anh Nguyễn Khắc D và anh Nguyễn Văn G phát hiện truy đuổi. B chạy lên xe Đ đang đứng chờ thì bị anh G chạy đến cầm đuôi xe giữ lại làm Đ và B ngã xuống đất. B đứng dậy bỏ chạy theo hướng Hoàng Quốc Việt đến đường Nguyễn Phong Sắc trốn thoát, còn Đ bị anh G và công an phường Cổ Nhuế 1 bắt giữ.

Quá trình xác minh xe máy Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 29L1-758.56, số khung RLHJA3918KY328740, số máy JA39E1193675 xác định đăng ký xe mang tên anh Trần Hải Q (SN 1982; HKTT: TDP số 6 phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, TP H ), xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Tuy nhiên, anh Quân hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 5 Bộ Công an, không có mặt ở nhà. Người bị hại Nguyễn Khắc D khai mua chiếc xe máy trên của anh Trần Hải Q vào tháng 06/2022, khi mua bán không viết giấy tờ và anh D chưa sang tên chính chủ. Anh D đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì.

Kết luận định giá số 303 ngày 18/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B có kết luận:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh - bạc - đen BKS 18K1-473.03, số khung RLHJA3924NY087322, số máy JA39E2584284 (của anh Vũ Văn L ) trị giá 14.000.000 đồng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh – bạc BKS 29S2-125.83, số khung RLHJA392XNY462727, số máy JA39E2897109 (của anh Nguyễn Việt C ) trị giá 15.000.000 đồng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh – đen – bạc BKS 29L1-758.56, số khung 3918KY328740, số máy JA39E1193675 (của anh Nguyễn Khắc D ) trị giá 10.000.000 đồng.

Như vậy, Nguyễn QuíP đã cùng Nguyễn Hữu Đ trộm cắp 02 xe máy tổng trị giá 29.000.000 đồng; Nguyễn Đình B cùng Nguyễn Hữu Đ trộm cắp 01 xe máy trị giá 10.000.000 đồng.

Tại cơ quan công an, Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Số tiền bán xe được P đã tiêu xài cá nhân hết.

Đối với người mua xe của Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B : Do không xác minh được nhân thân lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B không có căn cứ mở rộng điều tra.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Bản cáo trạng số 363/CT - VKS BTL ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 điều 173; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo P từ 15 đến 18 tháng tù;

Căn cứ khoản 1 điều 173; Điều 38; Điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo B từ 10 đến 15 tháng tù;

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Buộc bị cáo Nguyễn Quí P nộp 8.000.000đồng tiền thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước.

Vật chứng vụ án: không

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận B ; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 14/2 và 18/3/2023, trên địa bàn huyện Đ, thành phố H , Nguyễn Quí P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản gồm: 01 xe máy Honda Wave màu xanh - bạc - đen BKS 18K1-473.03 trị giá 14.000.000 đồng của anh Vũ Văn L, 01 xe máy Honda Wave màu xanh – bạc BKS 29S2-125.83 trị giá 15.000.000 đồng của anh Nguyễn Việt C . Tổng trị giá tài sản Nguyễn Quí P trộm cắp là 29.000.000 đồng.

Ngày 02/4/2023, tại số nhà 158 Hoàng Quốc Việt, phường C, quận B , thànhP H , Nguyễn Đình B có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu xanh – đen – bạc BKS 29L1-758.56 trị giá 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Khắc D

Hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là thanh niên đang trong độ tuổi lao động, không tìm cho mình một việc làm có thu nhập hợp pháp mà chủ động L dụng sự sơ hở của người bị hại, thực hiện hành vi phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản, bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo P phạm tội từ 02 lần trở lên. Sau khi phạm tội, các bị cáo đều đi khỏi địa phương, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo B đã được pháp luật giáo dục nhiều lần, nhưng không lấy đấy là bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, nhân thân có 02 tiền án khi phạm tội bị cáo ở độ tuổi vị thành niên được đương nhiên xoá án tích theo Điều 107 Bộ luật hình sự. Bị cáo B đang bị tạm giam trong vụ án khác, đủ thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét thái độ của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, thành khẩn khai nhận tội, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo; Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Bị cáo P thu lời bất chính số tiền 8.000.000đồng nên phải nộp truy thu sung quỹ nhà nước.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P phạm tội từ 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

.Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;

. Về dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

.Vật chứng vụ án: Không

. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quí P , Nguyễn Đình B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 47; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn QuíP 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 19/10/2023.

Buộc bị cáoP phải nộp truy thu 8.000.000đồng tiền thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình B 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;

4. Vật chứng vụ án: không

5. Về dân sự: Không

6. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ