- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nam Giang- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nam G phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --***--- Bản án số: 48/2024/HS - ST Ngày 25/6/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN – TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh và bà Vũ Thị Thuỳ Đông.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện VKSND TP. Hưng Yên tham gia phiên Tòa: Bà Trần Thị Y - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân tp. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/HSST, ngày 30/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST – HS ngày 12/6/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Nam G sinh năm 1973 tại Hưng Yên; Giới tính: Nam; Sinh trú quán: Thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Danh K, con bà Lê Thị C; gia đình bị cáo có 3 anh em bị cáo là lớn; bị cáo có vợ là: Tạ Kim T; Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Chưa.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ - Công an thành phố H.
- Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 28/3/2024 tại ngã ba trước cửa nhà ông Trần Ngọc D sinh năm 1946 ở thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên tổ công tác Công an xã T, thành phố H đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Nam G, sinh năm 1973, trú tại thôn Q, xã T, thành phố H. Quá trình kiểm tra G đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chứa chất màu trắng dạng cục, bột mà G đang cầm trên tay phải. G khai nhận chất màu trắng dạng cục, bột là ma túy, loại H, G cất dấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định và đưa G về trụ sở Công an để làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột đã được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín.
Ngày 28/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Nam G tại địa chỉ thôn Q, xã T, thành phố H. Qúa trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Quá trình điều tra Trần Nam G khai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/3/2024 G đi bộ từ nhà của G ở thôn Q, xã T, thành phố H ra ngoài có việc. Khi G đi đến đường liên thôn thuộc thôn Q, xã T, thành phố H thì gặp 01 người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) có đặc điểm khoảng 40 tuổi dáng ngươì cao gầy giống người nghiện ma túy, mặc quần áo tối màu, đeo khẩu trang nên G đi đến hỏi người này “anh có hàng không để cho em hai trăm”, ý của G hỏi mua ma túy Heroine của người này với giá 200.000 đồng. Người đàn ông trả lời “có, đưa tiền cho tao”. Sau đó G đưa cho người dàn ông 200.000 đồng thì người đàn ông đưa lại cho G 01 gói giấy bạc nhỏ màu trắng. G cầm gói giấy bạc rồi mở ra xem thì thấy bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Do G1 là người nghiện ma túy nên G1 biết được chất màu trắng dạng cục, bột là ma túy loại Heroine. G1 cầm gói ma túy trên tay phải đi tìm nơi để sử dụng còn người đàn ông bán ma túy cho G1 đi đâu thì G1 không biết. Khi G1 đi đến trước cửa nhà ông D ở thôn Q, xã T, thành phố H, thì bị Công an xã T kiểm tra. G1 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên G1 tự giác giao nộp cho Công an gói ma túy nêu trên. Công an đã biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 01 gói ma túy và đưa G1 về trụ sở để làm việc.
Tại bản kết luận giám định số 294/KL-KTHS (MT) ngày 31/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là: 0,159 g là ma túy loại Heroine. H1 lại 01 phong bì niêm phong ghi số 294/ KL-KTHS(MT), bên trong có 0,148 g (không phẩy một bốn tám gam) là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Nam G: G khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này; việc mua bán ma túy giữa G với người đàn ông không có ai biết, chứng kiến. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho G nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Quá trình điều tra bị cáo Trần Nam G thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 45/ CT – VKS - TPHY ngày 30 tháng 5 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Nam Giang ra trước TAND thành phố Hưng Yên để xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa hôm nay: Bị cáo Trần Nam G đã thành khẩn khai nhận tội và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện VKSND thành phố Hưng Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 – BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 – BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Trần Nam G phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Nam G từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 294/ KL-KTHS(MT) - Công an tỉnh H, bên trong có 0,148 g (không phẩy một bốn tám gam) là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
-Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hôi đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phân tích những chứng cứ xác định tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo G tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng ( BL 28 - 30), biên bản niêm phong vật chứng ( BL 31); phù hợp với bản kết luận giám định số 284/KL – KLHS ( MT) ngày 31/3/2024 ( BL 39); phù hợp lời khai của người làm chứng ông Trần Văn G2 ( BL 29 và 68, 69) là người chứng kiến trực tiếp việc bắt quả tang và thu giữ vật chứng là ma túy của bị cáo Trần Nam G. Ngoài ra lời khai của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ căn cứ kết luận: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 28/3/2024 tại ngã ba trước cửa nhà ông Trần Ngọc D, trú tại thôn Q, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Trần Nam G có hành vi tàng trữ trái phép 0,159 g là ma tuý loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Nam G ra trước Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên để xét xử về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là đúng quy định của pháp luật không oan sai.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Ma túy là hiểm họa của nhân loại, nhà nước đã ra sức tuyên truyền để bài trừ hiểm họa. Bị cáo biết tác hại của ma túy đến sức khỏe con người và là nguyên nhân sinh ra các tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó cần phải dành cho bị cáo một hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và phòng ngừa tôi phạm chung.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo G đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Danh K được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 - BLHS.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, lao động tự do thu nhập không ổn định và bị cáo là người nghiện ma tuý, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tƣ pháp:
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 – BLTTHS;
+ Tịch thu cho tiêu hủy: : 01 phong bì niêm phong ghi số 294/ KL-KTHS(MT) - Công an tỉnh H, bên trong có 0,148 g (không phẩy một bốn tám gam) là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 - BLTTHS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Nam G có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 – BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 – BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Nam G phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Nam G 01 ( Một ) năm 06 ( S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/3/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tƣ pháp khác:
- Về vật chứng:
+ Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 294/ KL-KTHS(MT) - Công an tỉnh H, bên trong có 0,148 g (không phẩy một bốn tám gam) là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
( Tình trạng số lượng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng của cơ quan Công an thành phố H, giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên)
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Nam G phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Nam G có mặt tại phiên Tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hưng Yên; - CA thành phố Hưng Yên; - Bị cáo; - Phòng kiểm tra &THA. TAND tỉnh - UBND nơi bị cáo thường trú; - Lưu HS; | Đỗ Quang Lịch |