vanban.org

Bản án 48/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Phạt bị cáo Nguyễn Nhỏ E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bị cáo Nguyễn Thị A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị A, Nguyễn Nhỏ E - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quốc Văn

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Nhỏ E, sinh năm 1992 tại Cà Mau, tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Ấp A, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Chổ ở hiện nay: Ấp A, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lượm ve chai; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị A; vợ: Quách Ngọc H, sinh năm 1990; tiền án: Không, tiền sự: 01 (Tại Quyết định số 30/QĐ-XPHC ngày 11/7/2023 của UBND xã VP, huyện VT, tỉnh Kiên Giang, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; bị cáo chấp hành xong vào ngày 13/7/2023); nhân thân: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấp đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2024 đến nay.

Họ và tên: Nguyễn Thị A, sinh năm 1953 tại Cà Mau, tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Ấp A, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Chổ ở hiện nay: Ấp A, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lượm ve chai; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Út C (đã chết); chồng: Nguyễn Văn C (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấp đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2024 đến nay.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ông Phạm Văn T, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 15/6/2024, Nguyễn Nhỏ E cùng với mẹ ruột là Nguyễn Thị A điều khiển vỏ Composite dài 7,2m gắn máy xe chạy dầu, hiệu 3T-66UC điều khiển trên tuyến sông TB theo hướng huyện Thới Bình đi huyện VT để lượm ve chai về bán. Khi đến địa phận xã Trí Phải, Nhỏ E điều khiển vỏ máy vào đoạn kênh NĐ thuộc ấp B, xã TP để tìm lượm ve chai. Nhỏ E tắt máy để bị cáo A ngồi trước mũi vỏ dùng cây dầm bơi dọc theo kênh. Khi đi ngang chòi vuông của ông Nguyễn Thanh C thì Nhỏ E phát hiện một đầu máy dầu D6 đã cũ, có gắn dàn cầu bằng gỗ để trên bờ vuông. Nhỏ E nãy sinh ý định trộm nên đi đến lấy cây dầm từ tay bị cáo A bởi vỏ cặp lại sát bờ kênh. Nhỏ E quan sát thấy chòi vuông đã khoá cửa, biết không có người trông coi. Nhỏ E đi đến chỗ đầu máy dầu, cuối người xuống dùng tay nắm dàn cầu bằng gỗ gắn liền với đầu máy và kéo về phía vỏ. Bị cáo A thấy thì lên tiếng “của người ta mày lấy làm gì”, Nhỏ E trả lời “cũ rồi, lấy bán; nghe Nhỏ E nói vậy thì bị cáo A không phản đối. Khi Nhỏ E kéo được đầu máy dầu tới cặp bờ kênh thì bước xuống vỏ trước, bị cáo A thấy vậy liền dùng cây dầm cặm cặp bên hong vỏ phía ngoài kênh, mục đích kềm lại không cho vỏ bị tạt ra ngoài để Nhỏ E kéo đầu máy dầu vừa lấy trộm được xuống vỏ. Khi kéo được đầu máy dầu xuống thì bị cáo A nhổ cây dầm lên và bơi vỏ đi tiếp để lượm ve chai.

Khi bơi đi cách chỗ vừa trộm được máy dầu khoảng 535 mét dọc theo kênh NĐ ra hướng kênh C thì Nhỏ E tiếp tục nhìn thấy một đầu máy dầu D6 của anh Phạm Văn T, không có gắn dàn cầu, đang để cặp chòi vuông đã khoá cửa. Thấy vậy Nhỏ E bước lên bờ đi đến chỗ đặt đầu máy dầu và cuối người nắm vào thân máy để kéo về phía võ. Biết là Nhỏ E tiếp tục trộm đầu máy dầu này, bị cáo A không nói gì mà cặm cây dầm phía ngoài kênh cặp bên hong vỏ lại cho Nhỏ E lôi đầu máy dầu vừa trộm được xuống vỏ. Sau khi trộm được 02 đầu máy dầu D6 thì Nhỏ E điều khiển vỏ máy chở theo bị cáo A và 02 đầu máy dầu vừa trộm được về hướng huyện VT, tỉnh Kiên Giang mục đích đi bán tài sản vừa trộm được. Khi đến xã VP, huyện VT, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng tuần tra phát hiện dừng phương tiện kiểm tra, Nhỏ E khai nhận trộm được 02 đầu máy dầu D6 ở khu vực ấp B, xã TP và đang trên đường đi bán lấy tiền tiêu xài.

Tại kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản (thường xuyên) trong tố tụng hình sự kết luận:

- 01 (một) đầu máy dầu D6 không có dàn cầu, trên thân máy có dòng chữ DF, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị là 1.400.000 đồng.

- 01 (một) đầu máy dầu D6 có dàn cầu bằng gỗ, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị là 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá theo yêu cầu định giá tài sản số 597/YC-ĐCSHS-KTMT ngày 01/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình là 2.900.000 đồng.

Vật chứng, đồ vật của vụ án gồm:

01 (một) đầu máy dầu D6 không có dàn cầu, trên thân máy có dòng chữ DF, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) đầu máy dầu D6 có dàn cầu bằng gỗ, máy cũ đã qua sử dụng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã trả lại cho bị hại là ông Phạm Văn T và ông Nguyễn Thanh C;

01 (một) vỏ Composite dài 7,2m, thân vỏ có dòng chữ CMC composite; 01 (một) máy xe chạy dầu, hiệu 3T-66UC, có dàn cầu, lắp máy và chân vịt 03 cA, máy cũ đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh C, ông Phạm Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Phạm Thị A, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Nhỏ E; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, o, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị A, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A phạm tội “Trộm cắp tài sản”: Phạt bị cáo Nguyễn Nhỏ E từ 04 tháng đến 07 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị A từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

Vật chứng: 01 (một) đầu máy dầu D6 không có dàn cầu, trên thân máy có dòng chữ DF, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) đầu máy dầu D6 có dàn cầu bằng gỗ, máy cũ đã qua sử dụng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã trả lại cho bị hại là ông Phạm Văn T và ông Nguyễn Thanh C nên đề nghị không xem xét.

01 (một) vỏ Composite dài 7,2m, thân vỏ có dòng chữ CMC composite; 01 (một) máy xe chạy dầu, hiệu 3T-66UC, có dàn cầu, lắp máy và chân vịt 03 cA, máy cũ đã qua sử dụng đã trả cho chủ sử dụng là tài sản của ông Lê Hoàng D, đã trả lại chủ sở hữu nên không xem xét;

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Các bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A thừa nhận hành vi phạm tội như đã được trình bày trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào ngày 15/6/2024, Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A có hành vi trộm cắp 01 (một) đầu máy dầu D6 có dàn cầu bằng gỗ và 01 (một) đầu máy dầu không có dàn cầu của ông Nguyễn Thanh C và Phạm Văn T ở Ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau có tổng giá trị là 2.900.000 đồng.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại trong vụ án và các tài liệu đã thu thập có tại hồ sơ. Từ những căn cứ đã nêu có cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A phạm vào tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 28/10/2024 mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng để nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, lười lao động, xem thường pháp luật nên bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại ông Nguyễn Thanh C và ông Phạm Văn T để thu lợi cho cá nhân, các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang cho người dân. Lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo là lỗi cố ý, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với giá trị tài sản trộm cắp của ông Nguyễn Thanh C, ông Phạm Văn T được định giá 2.900.000 đồng. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nhỏ E là người chưa có tiền án nhưng có nhân thân xấu, bị cáo đã từng có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản sau đó bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dẫn đến bị truy tố tại phiên tòa hôm nay. Do đó, cần xử phạt với mức hình phạt bị cáo Nhỏ E thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để phòng ngừa chung và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; Đối với bị cáo Nguyễn Thị A biết việc bị cáo Nhỏ E thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không ngăn cản mà còn giúp sức. Tuy nhiên, bản thân bị cáo A là người trên 70 tuổi, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xem xét cho bị cáo hình phạt cho phù hợp với bị cáo.

Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nhỏ E là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tài sản không lớn theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Thị A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tài sản không lớn, là người trên 70 tuổi theo quy định tại điểm h, i, o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo A có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng rõ ràng, không tiền án tiền sự, có trình độ văn hóa thấp, bị cáo là người cao tuổi nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng có tác dụng phòng ngừa và giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Thanh C, Phạm Văn T đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét là phù hợp.

Vật chứng: 01 (một) đầu máy dầu D6 không có dàn cầu, trên thân máy có dòng chữ DF, máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) đầu máy dầu D6 có dàn cầu bằng gỗ, máy cũ đã qua sử dụng. Các vật chứng này đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã trả lại cho các bị hại là phù hợp.

01 (một) vỏ Composite dài 7,2m, thân vỏ có dòng chữ CMC composite; 01 (một) máy xe chạy dầu, hiệu 3T-66UC, có dàn cầu, lắp máy và chân vịt 03 cA, máy cũ đã qua sử dụng, là tài sản của ông Lê Hoàng D. Quá trình điều tra, ông Diễn không biết các bị cáo sử dụng vỏ, máy này để đi trộm nên Cơ quan điều trả trả lại cho ông D là phù hợp.

Do không có đơn yêu cầu miễn nộp án phí nên các bị cáo phải chịu án phí theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Nhỏ E;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, o, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị A;

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhỏ E, Nguyễn Thị A, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Phạt bị cáo Nguyễn Nhỏ E 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Phạt bị cáo Nguyễn Thị A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị A cho Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:

Bị cáo Nguyễn Nhỏ E nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Thị A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bản án này là sơ thẩm, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ