- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Nguyễn Đức N- Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:48 /2024/HS-PT Ngày: 01 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.
Các Thẩm phán:
Ông Trần Thế Cẩm;
Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức N (tên gọi khác: Chó); sinh ngày 24/7/1994 tại B, Quảng Nam; nơi cư trú: thôn D 1, xã P, thị xã B, tỉnh Quảng Nam; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Đức H (sinh năm 1968), con bà Lê Thị N (sinh năm 1969); gia đình có 3 anh em, bị cáo là con đầu.; có vợ là Châu Thị Bích L (sinh năm 1988), bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2023);
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 26/6/2023 bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết dịnh xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng. Đã nộp phạt vào ngày 20/7/2023.
Nhân thân:
- Ngày 15/5/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn tuyên phạt 2 năm 6 tháng tù vê tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điêu 136 Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Ngày 14/9/2018 bị Công an thị xã Điện Bàn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000 đồng.
- Ngày 16/12/2019, bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 12 tháng.
- Ngày 29/12/2021 Bị UBND xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn ra quyết định giáo dục tại xã phường thời gian 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo đang bị bắt tạm giam theo Quyết định khởi tố bị can số 117/QĐ-KTBC ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Phó Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Hội An (Lệnh tạm giam số 37/LTG-CQĐT ngày 28 tháng 12 năm 2023). Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Nguyễn Đức N điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo, biển số 92S3 - 0700 (do Lê Xuân T, sinh năm 1987, trú tại khu Phước Mỹ, thị trấn Ái Nghĩa, làm chủ sở hữu) đi từ xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn đến huyện Đại Lộc để mượn tiền người quen. Khi đến đoạn đường ĐT609 thuộc thôn Phiếm Ái 1, xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc thì N phát hiện ở lề đường bên trái có một chiếc xe kéo, loại xe tự chế làm bằng sắt do bà Phan Thị Thanh V (sinh năm 1995, trú thộn H, xã A, huyện L, làm chủ sở hữu) không có ai trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. N quan sát không có người nên xuống xe đi đến chiếc xe kéo rồi kéo cần chiếc xe tự chế gác lên đuôi xe mô tô chạy ra Thành phố Đà Nẵng tìm nơi tiêu thụ, trên đường đi N dừng lại dùng Ipad truy cập vào mạng xã hội Facebook đăng thông tin hình ảnh chiếc xe kéo trộm cắp được trên trang “Hội mua bán xe cũ ở thành phố Đà Nẵng” để bán thì có một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua với giá 600.000 đồng và hẹn nhau ở khu vực Cầu Đỏ (thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng) để giao xe và đưa tiền. Sau khi bán được xe, N tiêu xài hết 150.000 đồng, còn lại 450.000 đồng N cất giữ trong người.
Ngoài ra, khoảng 06 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, Nguyễn Đức N điều khiển xe mô tô 92S3 - 0700 từ xã Điện Phước đến thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc để trả lại xe mô tô 92S3-0700 cho anh Lê Xuân T (là chủ cửa hàng cho thuê xe máy Khánh Thành). Khi đến nơi, N thấy cửa hàng anh T đóng cửa nên N điều khiển xe chạy lên thôn Truờng An, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc thì phát hiện có một chiếc xe đạp dựng ở sát lê đường không có ai trông coi nên N bê chiếc xe đạp bỏ lên trên yên xe chạy xuống hướng thị trấn Ái Nghĩa. Khi đến Đại Nghĩa thì gặp Tổ tuần tra Công an xã Đại Nghĩa bắt.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HÐĐGTS ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 xe kéo được làm bằng sắt có gắn 02 bánh xe bằng su (loại bánh xe bò), tổng chiêu dài của xe khoảng 02m, Cần xe dài 0l m, làm bằng sắt, loại sắt khoảng 03x06cm, thùng xe dài 01 m, rộng khoảng 0,8m, làm bằng săt, loại sắt hộp 0lx02cm, 03x06cm, sắt vuông 03x03 cm có giá trị là 2.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HÐĐGTS ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: 1 xe đạp màu sơn đỏ - đen, tem dán trên thanh khung xe có chữ GSWDRD màu trắng bằng kim loại có giá trị là 600.000 đồng.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 19/12/2023, bị cáo Nguyễn Đức N có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đức N có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Xét việc kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, tại thôn Phiếm Ái 1, xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc Nguyễn Đức N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe kéo, loại xe tự chế làm bằng sắt do bà Phan Thị Thanh V, sinh năm 1995, trú thộn H, xã A, huyện L, làm chủ sở hữu với giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.500.000 đồng, mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đức N thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Xét mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp, không nặng, đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 01/3/2024).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam; - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa Hình sự. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Tấn Long TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Đinh Tấn Long |