- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hằng - Tuấn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Thu H đối với bà Nguyễn Hồng Nh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày 25 – 4 – 2024 “V/v tranh chấp nợ hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Nguyễn Văn Mầm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1965 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: 1/ Ông Lê Văn T, sinh năm 1973 (Có mặt)
2/ Bà Nguyễn Hồng Nh, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 10 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Phan Thị Thu H trình bày:
Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Hồng Nh là chủ hụi tại địa phương, bà có tham gia chơi hụi của ông T và bà Nh cụ thể như sau:
Dây thứ nhất: Mở vào ngày 28/01/2023 âm lịch, loại 100.000 đồng, mỗi ngày khui một lần, dây hụi có 105 chưng, trong đó bà tham gia chơi 05 chưng. Dây hụi khui được 93 lần thì ông T và bà Nh đình hụi, số tiền hụi ông T và bà Nh còn nợ bà là 46.500.000 đồng, trừ tiền hoa hồng cho đầu thảo 500.000 đồng, số tiền còn lại ông T và bà Nh nợ bà là 46.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: Mở ngày 19/02/2023 âm lịch, loại hụi 100.000 đồng, mỗi ngày khui một lần, dây hụi có 90 chưng, trong đó bà tham gia chơi 05 chưng. Dây hụi khui được 73 lần thì ông T và bà Nh tuyên bố đình hụi, số tiền ông T và bà Nh còn nợ bà là 36.500.000 đồng, trừ đi tiền hoa hồng cho đầu thảo 500.000 đồng ông T và bà Nh còn nợ bà là 36.000.000 đồng.
Tổng hai dây hụi ông T và bà Nh còn nợ bà là 82.000.000 đồng. Vào ngày 28/5/2023 tại nhà bà Nh giữa bà, bà Lê Thị Đạm, bà Lê Thị Trúc và bà Nh có kết nợ lại với nhau và lập thành văn bản, ông T có chứng kiến nhưng không ký tên. Biên nhận giao tiền do bà Trần Thị Ánh Hồng ghi, với nội dung: tổng số tiền mà bà Nh còn nợ bà, bà Trúc, bà Đạm là 252.500.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, nợ bà là 82.000.000 đồng, nợ bà Trúc là 95.000.000 đồng, nợ bà Đạm 75.500.000 đồng. Tại buổi làm biên nhận giao tiền thì bà Nh có trả cho bà và bà Đạm, bà Trúc 52.500.000 đồng, số tiền bà Nh còn nợ lại bà Trúc là 73.000.000 đồng, nợ bà là 67.000.000 đồng, nợ bà Đạm là 60.000.000 đồng, tổng là 200.000.000 đồng. Sau đó bà Nh và ông T có trả dần cho bà đến nay số tiền còn nợ lại là 41.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông Lê Văn T về việc yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả nợ cùng với bà Nh, vì khi chơi hụi thì chỉ có bà Nh trực tiếp thực hiện giao dịch với bà, ông T với bà Nh chỉ sống chung với nhau như vợ chồng và không có đăng ký kết hôn. Nay bà khởi kiện yêu cầu bà Nh trả cho bà số tiền nợ hụi còn lại là 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng).
Tại phiên tòa ông Lê Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Hồng Nh chung sống với nhau như vợ chồng khoảng 05 năm nay nhưng không đăng ký kết hôn, việc bà Nh làm chủ hụi thì ông biết nhưng ông không tham gia. Ông biết bà H có tham gia chơi hụi của bà Nh nhưng không biết cụ thể bà H tham gia dây hụi nào, loại hụi gì và tham gia chơi bao nhiêu chưng. Đối với biên nhận giao tiền đề ngày 28/5/2023 được lập giữa bà Nh, bà Lê Thị Trúc, bà Lê Thị Đạm và bà Phan Thị Thu H tại nhà của bà Nh ông có chứng kiến, chữ ký trong biên nhận giao tiền đề ngày 28/5/2023 là của bà Nh. Đối với việc chơi hụi giữa bà Nh và bà H không liên quan đến ông nên ông không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà H.
Đối với bà Nguyễn Hồng Nh, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Toà án triệu tập bà Nh để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà Nh vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thu H đối với bà Nguyễn Hồng Nh. Buộc bà Nh có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Thu H số tiền nợ hụi 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng). Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thu H đối với ông Lê Văn T về việc buộc ông T có nghĩa vụ trả nợ cùng với bà Nh.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Hồng Nh phải chịu theo quy định của pháp luật.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phan Thị Thu H với bị đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Hồng Nh là “Tranh chấp nợ hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Hồng Nh có địa chỉ tại Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy đinh tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Hồng Nh hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà Nh vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với bà Nh theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện:
Tại đơn khởi kiện bà Phan Thị Thu H yêu cầu ông Lê Văn T có nghĩa vụ cùng với bà Nh trả nợ cho bà H. Tại phiên tòa, bà H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông T vì cho rằng ông T không liên quan đến việc chơi hụi giữa bà H và bà Nh. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc bà H rút lại yêu khởi kiện đối với ông T là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông T về việc buộc ông T trả nợ cùng với bà Nh.
[2.2] Bà Phan Thị Thu H yêu cầu bà Nguyễn Hồng Nh trả cho bà H số tiền nợ hụi là 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng). Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án bà H có cung cấp cho Toà án biên nhận giao tiền đề ngày 28/5/2023 thể hiện nội dung “Hôm nay, ngày 10-04 (âm lịch) 28-5 DL chị nhiên có thiếu chúng tôi tổng số tiền là 252.500.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu đồng), chị Nhiên đã gửi trước 52.500.000 đồng (Năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng), còn lại 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu chẳn), với lời hứa mỗi ngày chị Nhiên trả 2.000.0000 đồng (Hai triệu đồng) bắt đầu từ ngày 11-4 (âm lịch) 29-05 DL”. Cuối văn bản có chữ ký của bà Nguyễn Hồng Nh, bà Lê Thị Trúc, bà Lê Thị Đạm, bà Phan Thị Thu H và bà Trần Thị Ánh Hồng. Theo biên nhận giao tiền bà Phan Thị Thu H, bà Lê Thị Đạm và bà Lê Thị Trúc xác định bà Nh còn nợ bà Trúc 73.000.000 đồng, nợ bà H là 67.000.000 đồng, nợ bà Đạm là 60.000.000 đồng, tổng là 200.000.000 đồng. Tại biên bản làm việc với bà Trần Thị Ánh Hồng vào ngày 22/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước thì bà Hồng xác nhận vào ngày 28/5/2023 bà Phan Thị Thu H, bà Lê Thị Đạm, bà Lê Thị Trúc, ông T, bà Nh có ngồi lại kết nợ lại với nhau tại nhà bà Nh, ông T. Biên nhận giao tiền đề ngày 28/5/2023 là do bà Hồng viết.
Tại phiên tòa, ông T cũng xác định vào ngày 28/5/2023 giữa bà Trúc, bà H, bà Đạm có kết nợ lại với nhau tại nhà bà Nh và có lập thành văn bản. Tuy nhiên, việc nợ hụi giữa bà Nh, bà Trúc, bà H, bà Đạm cụ thể như thế nào thì ông T không rõ. Đối với bà Nh trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà H yêu cầu bà Nh trả cho bà H số tiền nợ hụi 41.000.000 đồng, thông báo cho bà Nh đến Toà án để tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập xét xử nhưng bà Nh không đến tham dự và cũng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của bà H. Từ đó, cho thấy việc bà H có tham gia chơi hụi của bà Nh và bà Nh còn nợ bà H số tiền 41.000.000 đồng là thực tế có xảy ra. Do đó, việc bà H khởi kiện yêu cầu bà Nh trả cho bà H số tiền nợ hụi 41.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tại phiên toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Trúc nên bà Nguyễn Hồng Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.050.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Các Điều 357, 471, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Thu H đối với bà Nguyễn Hồng Nh.
Buộc bà Nguyễn Hồng Nh có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Thu H số tiền nợ hụi 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, bà Nh không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà Nh phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thu H đối với ông Lê Văn T về việc buộc ông T có nghĩa vụ trả nợ cùng với bà Nh.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Hồng Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.050.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Phan Thị Thu H không phải chịu án phí, bà H có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 1.025.000 đồng (Một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009565 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bà Phan Thị Thu H, ông Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Hồng Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - Đương sự; - Lưu VP-HS. | Nguyễn Văn Đệ |