vanban.org

Bản án 48/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Phƣớc L (Tên gọi khác: Cu E), phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Dương Phước L: 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 03/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Phước L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Phƣớc L (Tên gọi khác: Cu E), phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HSST
Ngày 02 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Cao Thắng;

2. Ông Hoàng Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số 45 Lê Lợi, thành phố Đông Hà), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2023/HSST, ngày 18/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2023/QĐXXST-HS ngày 19/5/2023, đối với bị cáo:

Dƣơng Phƣớc L (Tên gọi khác: Cu E), sinh ngày 09/11/1993, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố M, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Phúc H, sinh năm: 1956 và bà Trương Thị M, sinh năm: 1959; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 10/9/2022, Công an xã Thanh An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính, đối với Dương Phước L về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền, Lập chưa thi hành xong).

- Nhân thân:

Ngày 27/5/2011, Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính, đối với Dương Phước L về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, bằng hình thức phạt tiền.

Ngày 04/9/2013, Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính, đối với Dương Phước L về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, bằng hình thức phạt tiền.

Ngày 06/7/2015, Công an tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính, đối với Dương Phước L về hành vi “Kinh doanh hàng hoá nhập lậu”, bằng hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Dương Trung Th, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố P3, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Ngọc S, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố T, phường Đông G, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 16/01/2023, Dương Phước L điều khiển xe đạp đi một mình mang theo 02 bao gai và 01 xà beng từ nhà đến khu vực các hồ nuôi tôm tại Khu phố 5K, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, với mục đích “Trộm cắp tài sản”. Khi đến khu vực hồ nuôi tôm của anh Dương Trung Th; trú tại Khu phố P3, phường Đông L, thành phố Đ, L quan sát thấy không có ai trông coi nên đã dựng xe đạp ở gần đó rồi mang theo xà beng và bao gai đi bộ đến cổng vào hồ nuôi tôm và dùng xà beng phá khóa cổng rồi đi vào bên trong. Khi đi đến kho để dụng cụ, L tiếp tục sử dụng xà beng phá khóa cửa kho rồi đột nhập vào bên trong và lấy các tài sản gồm: 04 môtơ; 01 máy bơm nước; 01 máy xịt rửa, 01 vỏ bình ga; 02 cuộn dây điện; 44 chai thuốc các loại (gồm: 18 chai phân bón hữu cơ sinh học, 19 chai thuốc kích thích sinh trưởng và 07 chai phân bón lá NPK). Sau khi lấy được tài sản, L bỏ hết các tài sản đã lấy trộm được vào 02 bao gai đã chuẩn bị trước rồi đưa lên xe đạp vận chuyển đến cất giấu tại Lăng mộ Tộc Lê Văn làng Phú Lễ gần đường Cồn Cỏ (thuộc phường Đông L, thành phố Đ).

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/01/2023, L đến nơi cất giấu tài sản rồi lấy toàn bộ số tài sản đã trộm cắp được đưa đi tiêu thụ. Khi đi trên đường Cồn Cỏ, L gặp một người phụ nữ thu mua phế liệu (không rõ lai lịch, địa chỉ) nên L đã bán: 04 môtơ, 01 vỏ bình ga, 02 cuộn dây điện và 01 máy bơm nước, với tổng số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng 09 giờ cùng ngày, L tiếp tục đưa 44 chai thuốc các loại đến bán cho anh Hoàng Ngọc S- Chủ Cửa hàng phân bón Thu Hương; địa chỉ Khu phố R, phường Đông G, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, với tổng số tiền 440.000 đồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, L tiếp tục đem bán 01 máy bơm cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi phun thuốc cỏ ở đường Cồn Cỏ, với số tiền 150.000 đồng.

Ngày 23/01/2023, anh Th phát hiện tài sản bị mất cắp; ngày 01/02/2023, anh Th làm đơn trình báo đến Công an phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà.

(2) Vật chứng thu giữ: 18 chai phân bón hữu cơ sinh học, 19 chai thuốc kích thích sinh trưởng và 07 chai phân bón NPK (Đều chưa qua sử dụng). 01 dây xích sắt, 01 ổ khoá Việt Tiệp, 01 xe đạp, 01 xà beng và 02 bao gai.

(3) Kết luận định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 03/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, kết luận:

- Tài sản không thu giữ được gồm: 04 mô tơ 03 pha, trị giá 6.300.000 đồng; 01 máy bơm nước thả chìm, trị giá 3.910.000 đồng; 01 máy xịt rửa, trị giá 1.080.000 đồng; 02 cuộn dây điện Cavina 2.5, trị giá 3.200.000 đồng và 01 bình ga màu xanh, trị giá 200.000 đồng.

- Tài sản thu giữ được gồm: 18 chai phân bón hữu cơ, trị giá 900.000 đồng; 19 chai thuốc kích thích sinh trưởng, trị giá 1.900.000 đồng và 07 chai phân bón NPK, trị giá 315.000 đồng.

Tổng trị giá toàn bộ tài sản định giá: 17.805.000 đồng

(4) Cáo trạng truy tố: Cáo trạng số 45/CT-VKS-ĐH ngày 18/4/2023, truy tố bị cáo Dương Phước L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

(5) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Dương Phước L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Dương Phước Lập từ 12 đến 15 tháng tù.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe đạp; tịch thu tiêu hủy: 01 dây xích sắt, 01 ổ khoá Việt Tiệp, 01 xà beng và 02 bao gai.

- Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc Dương Phước L phải bồi thường cho anh Dương Trung Th số tiền 14.500.000 đồng.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục mở phiên tòa cho bị hai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ vẫn vắng mặt tại phiên tòa, thấy: Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra đã lấy lời khai bị hai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[II] Nội dung vụ án:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Dương Phước L khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số 45/CT-VKS-ĐH ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đó là: Tin báo tội phạm, sơ đồ hiện trường vụ việc, Bản ảnh xác định địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/01/2023, tại hồ nuôi tôm ở Khu phố 5K, phường Đông L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, bị cáo Dương Phước L đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu để lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Dương Trung Th, gồm: 04 môtơ, 01 máy bơm nước, 01 vỏ bình ga màu xanh; 02 cuôn dây điện và 44 chai thuốc các loại. Tổng trị giá tài sản Lập chiếm đoạt là 17.805.000 đồng nên hành vi nêu trên của bị cáo Dương Phước L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự an ninh ở địa phương nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo L mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.

(2) Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội do mình gây ra; tự khai nhận hành vi phạm tội khi chưa ai biết bị cáo thực hiện hành vi phạm đó nên phải áp dụng các tình tiết giảm được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

(3) Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử, thấy: Tuy được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên việc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ và cần thiết.

Thời gian bị cáo bị bắt tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam bị cáo 45 ngày.

(4) Hành vi mua tài sản do L phạm tội mà có:

Anh Hoàng Ngọc S không biết tài sản đã mua từ L là do L phạm tội mà có nên không xem xét.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ nhưng không xác định được danh tính của “Người phụ nữ” và “Người đàn ông” đã mua tài sản do Lập phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

(5) Về vật chứng vụ án:

- Quá tình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 44 chai thuốc các loại từ anh Hoàng Ngọc S rồi trả lại cho Dương Trung Th-là có căn cứ.

- 01 chiếc xe đạp: Thuộc quyền sở hữu của L, L đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 xà beng, 02 bao gai: Thuộc quyền sở hữu của L, L đã sử dụng làm công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu sung tiêu hủy.

- 01 dây xích, 01 ổ khoá: Thuộc quyền sở hữu của anh Th, hiện không còn giá trị sử dụng và anh Th từ chối nhận lại nên cần tịch thu sung tiêu hủy.

(6) Trách nhiệm dân sự:

- Anh Dương Trung Th yêu cầu Dương Phước L bồi thường thiệt hại đối với các tài sản không thu hồi được với tổng số tiền 14.500.00 đồng. Hội đồng xét xử, thấy: Yêu cầu của anh Th là có căn cứ cần chấp nhận.

- Anh Hoàng Ngọc S không yêu cầu L hoàn trả lại số tiền 440.000 đồng mà Anh đã mua 44 chai thuốc các loại từ L nên Hội đồng xét xử không xem xét.

(7) Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Phƣớc L (Tên gọi khác: Cu E), phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Dương Phước L: 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 03/02/2023.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe đạp đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dây xích sắt, 01 ổ khóa Việt Tiệp, 01 xà beng bằng kim loại, 01 bao gai màu xanh và 01 bao gai màu gạch.

Vật chứng hiện nêu trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 4 năm 2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị).

3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự

Buộc Dương Phước L phải bồi thường thiệt hại cho anh Dương Trung Th, số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng chẳn).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc Dương Phước L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 625.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí sơ thẩm Dương Phước L phải chịu là 825.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ