vanban.org

Bản án 48/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Đ (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 54/2021/HS-ST ngày 04/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 11, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 05 (năm) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HSST
Ngày : 25/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Khắc Huy

2. Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Đinh Ngọc Thái Q (Tên gọi khác: B), sinh ngày 01 tháng 9 năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 1 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Ngọc D, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 04/11/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 54/2021/HS-ST, Q kháng cáo, ngày 07/4/2022 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, gi nguyên án sơ thẩm; tiền sự: không; tạm gi , tạm giam: 27/9/2022 (Có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng L1, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2 N, Phường A, quận G, TP .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hoàng D1, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2 Hậu Giang, Phường I, Quận F, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/9/2022, Đinh Ngọc T Q điều khiển xe máy Honda Wave màu đen, biển số 54KG-1987 lưu thông trên đường Đ, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi phát hiện bà Nguyễn Thị Hồng L1 đang cầm điện thoại trên tay trái, ngồi sau xe máy do bà Nguyễn Thị Trà M điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại, Q liền điều khiển xe vòng lại, bám sát sau xe của bà M. Khi đến trước nhà số B Đ, Phường A, quận T, Q điều khiển xe vượt lên, áp sát bên trái của bà L1, dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động Iphone 11 (64GB) màu đen, ốp lưng nhựa màu trắng của bà L1. Sau khi cướp giật được tài sản, Q cất điện thoại vừa giật được vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc, rồi tăng ga chạy về hướng giao lộ Đ - Hồ N. Bà M và bà L1 truy hô, điều khiển xe đuổi theo đến trước số A N H, Phường A, quận T. Do phía trước là hẻm cụt nên Q quay xe lại chạy ra thì bị bà M, bà L1 cùng người dân bắt gi Q cùng tang vật và phương tiện giao cho Công an P, quận T xử lý.

Vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động Iphone 11 (64GB) màu đen, ốp lưng nhựa màu trắng, hàng chính hãng, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động tốt.

Kết luận định giá tài sản số 142/HĐĐGTS-TTHS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 11 (64GB) màu đen, kèm ốp lưng nhựa màu trắng trị giá 9.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu hồi trả lại cho bị hại là bà Nguyễn Thị Hồng L1

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen biển số 54K6-1987, số khung: RLHJC4325BY015534, số máy: JC43E-5918079, xe đã qua sử dụng.

Bị cáo Đinh Ngọc Thái Q mượn của bạn gái tên Nguyễn Thị Mỹ H làm phương tiện chạy xe ôm. Đăng ký chủ sở h u là ông Nguyễn Hoàng D1 (cha ruột bà H). Bà H và ông D1 không biết bị cáo sử dụng phương tiện vào mục đích phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả xe cho ông D1.

- Thu gi của bị cáo:

+ 01 diện thoại di động Nokia 6.1 màu đen, số imei1: 358549080903366, số imei2: 358549080983368, đã qua sử dụng.

+ 01 áo khoác dài tay màu trắng xám, 01 quần kaki dải màu đen, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đỏ trắng có ch Goviet, 01 túi đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng L1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội giống với lời khai tại cơ quan điều tra.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn gi nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đinh Ngọc Thái Q về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 4 đến 5 năm tù, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 54/2021/HS-ST ngày 04/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 11. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đinh Ngọc Thái Q, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T được phân công điều tra giải quyết vụ án, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ quá trình điều tra, truy tố, diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của các bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tang vật và các tài liệu chứng cứ khác được trong hồ sơ vụ án đã xác định: Đinh Ngọc Thái Q đã có hành vi điều khiển xe máy Honda Wave màu đen, biển số 54KG-1987 áp sát bên trái của bà Nguyễn Thị Hồng L1, dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động Iphone 11 (64GB) màu đen trị giá 9.000.000 đồng vào khoảng 19 giờ 30 ngày 27/9/2022 tại trước nhà số B Đ, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật và Nhà nước bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý nên Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Phạm Đình C đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của chính bị cáo và nh ng người đang lưu thông trên đường là thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 04/11/2021, bị cáo Đinh Ngọc T Q bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 54/2021/HS-ST, bị cáo đang trong quá trình chờ chấp hành bản án phạt 06 tháng tù đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản” nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 (64GB) màu đen, ốp lưng nhựa màu trắng, hàng chính hãng, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động tốt trị giá 9.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu hồi trả lại cho bị hại là bà Nguyễn Thị Hồng L1 là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen biển số 54K6-1987, số khung: RLHJC4325BY015534, số máy: JC43E-5918079, xe đã qua sử dụng, đứng tên chủ sở h u là ông Nguyễn Hoàng D1. Ông D1 không biết bị cáo sử dụng phương tiện để phạm tội nên Cơ quan điều tra trả cho ông D1 là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

- Đối với 01 diện thoại di động Nokia 6.1 màu đen, số imei1: 358549080903366, số imei2: 358549080983368, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo Q, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại tài sản cho bị cáo Q.

- Đối với 01 áo khoác dài tay màu trắng xám, 01 quần kaki dải màu đen, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đỏ trắng có ch Goviet, 01 túi đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là bà Nguyễn Thị Hồng L1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 106; Điều 268, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 47; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Thái Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Đ (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 54/2021/HS-ST ngày 04/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 11, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2022.

2. Về vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Đinh Ngọc Thái Q: 01 diện thoại di động Nokia 6.1 màu đen, số imei1: 358549080903366, số imei2: 358549080983368, đã qua sử dụng (tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2023 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu trắng xám, 01 quần kaki dải màu đen, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đỏ trắng có ch Goviet, 01 túi đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng (tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2023 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

3. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ