- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật t tụng Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI Bản án số:48/2023/HSST Ngày: 29/6/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Bá N - Bí thư đoàn xã Đỗ Động, Huyện Thanh O
Ông Lê H Trọng - Cán bộ nghỉ hưu xã Tam Hưng, Huyện Thanh O
- Thƣ ký phiên tòa : Bà Phạm Anh Bích - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Thanh O, TP. Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh O, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương S - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Thanh O, thành ph Hà Nội; xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý s : 43/2023/HSST ngày 01/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 42/2023 ngày 07 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa s : 15/2023 ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân Huyện Thanh O, Tp Hà Nội đ i với các bị cáo:
1/ Đào Văn H, sinh ngày 21/3/2006. ĐKHKTT nơi ở; Thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, Tp Hà Nội; Trình độ văn hoá: 11/12; Qu c tich: Việt Nam; Dân tộc Kinh; Nghề ngH1: Lao động tự do; B đ : Đào Văn S; m đ : Lê Thị M; Chưa có vợ, con; Gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ 02; Danh chỉ bản số; 273/2022 do Công an Huyện Thanh O lập ngày 24/10/2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 10/3/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/3/2023 đến ngày 24/6/2023. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Đa H1, sinh ngày 04/10/2005. ĐKHKTT nơi ở; Thôn Văn D, xã Hưng L, Huyện Ninh Gi, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Nghề ngH1: Lao động tự do; B đ : Nguyễn Đa H2 (đã chết); m đ : Đào Thị H3; Vợ con: Chưa có; gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ 02; Danh chỉ bản số; 274/2022 do Công an Huyện Thanh O lập ngày 24/10/2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 17/02/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/02/2023 đến ngày 24/6/2023. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
3. Những người tham gia tố tụng:
-Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Đào Văn H:
Ông Đào Văn S, sinh năm 1977; (là b đ bị cáo H); ĐKHK và nơi ở: Thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, TP Hà Nội (có mặt)
Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Đa H1:
Bà Đào Thị H3, sinh năm 1984 (m đ bị cáo H1)
Trú tại: Thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, Tp Hà Nội. (có mặt)
-Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Đinh Thị Thanh Hƣơng và bà Nguyễn Thị Thủy Sen - Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành ph Hà Nội. (có mặt)
4.Ngƣ i bị hại:
1/ Chị Đỗ Thị N, sinh năm 2002
Trú tại: Thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, Tp Hà Nội.
(Tại phiên tòa: chị N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo Đào Văn H và Nguyễn Đa H1 bị VKSND Huyện Thanh O truy t về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 21/10/2022, Đào Văn H sinh ngày 21/3/2006, trú tại: thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, TP. Hà Nội nhắn tin từ tài khoản ứng dụng Messenger mang tên “H Văn” của H đến tài khoản Messenger mang tên “H1 Đen” của Nguyễn Đa H1 sinh ngày 04/10/2005, ở cùng thôn, mục đích rủ H1 đi cướp giật tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân. H1 đồng ý và đi bộ đến cổng nhà H thì H lấy chiếc xe mô tô BKS 29T1-89* của b đ là ông Đào Văn S sinh năm 1977, trú tại cùng thôn rồi chở H1 ngồi sau và đi theo đường liên thôn trong xã Cao V tìm người sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đi tới đoạn đường thuộc xóm Âm, thôn V, H phát hiện chị Đỗ Thị N sinh năm 2002, trú tại thôn V, xã Cao V đang điều khiển xe mô tô đi phía trước cùng chiều, tay trái chị N đang sử dụng điện thoại di động. Thấy vậy, H bảo H1 giật chiếc điện thoại của chị N, H điều khiển xe mô tô áp sát xe mô tô của chị N, H1 dùng tay phải giật chiếc điện thoại chị N đang sử dụng khiến xe mô tô của chị N đổ vào xe mô tô của H làm H và H1 ngã ra đường. Trong lúc chị N giằng co chiếc điện thoại với H1 thì H dựng xe mô tô lên và điều khiển xe chạy thoát còn H1 bị quần chúng nhân dân bắt quả tang, đến 23 giờ cùng ngày H đến đầu thú tại Công an xã Cao V, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Về tang vật, tài sản thu giữ:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh có s IMEI 3565461060113*.
- 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Bee màu đen có s IMEI1: 356764101821*, s IMEI2: 356764101821* (thu của H).
- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen có s IMEI1: 35455610853*, s IMEI2: 354557102853* (thu của H1).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS: 29T1-898*.
* Tại Kết luận định giá tài sản s 80/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự Huyện Thanh O, kết luận:
“- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số Imei 356546106043*, có giá trị 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).
Thời điểm định giá ngày: 21/10/2022”,
* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần s 50/KLGĐ ngày 09/3/2023, Viện pháp y tâm thần trung ương – Bộ Y tế kết luận:
“- Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 21/10/2022 và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Đa H1 bị bệnh Động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10năm 1992 bệnh có mã số G40.6.
- Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Cáo trạng s : 41/CT-VKS ngày 29/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh O truy t Đào Văn H và Nguyễn Đa H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công t tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy t các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và điều luật đã viện dẫn. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính:
+ Đối với Đào Văn H: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đào Văn H mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 10/3/2023.
+ Đối với Nguyễn Đa H1: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 91, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đa H1 mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 17/2/2023.
* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người dưới 18 tuổi, s ng phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
* Về tang vật, tài sản thu giữ: Không có
- Bà Hương, bà Sen là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội đều có ý kiến nhất trí với cáo trạng của VKS truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cho các cị cáo phạm tội lần đầu không nhận thức được hết hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn trẻ chưa đủ 18 tuổi, phạm tội do không nhận thực đầy đủ về pháp luật, từ những phân tích trên. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được áp dụng điều 90, 91 Bộ luật hinh sự với mức án thấp hơn như đại diện VKS đề nghị.
- Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; Các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về tố tụng: Hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra- Công an Huyện Thanh O, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh O, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra truy t đảm bảo đúng quy định của pháp luật
Về nội dung: Tại phiên toà các bị cáo Đào Văn H và Nguyễn Đa H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; Thời gian địa điểm xảy ra vụ án; Vật chứng đã thu giữ; Kết luận định giá tài sản và diễn biến khách quan của vụ án. Đủ cơ sở để xác định: Ngày 21/10/2022, Đào Văn H điều khiển xe mô tô BKS 29T1-898* chở Nguyễn Đa H1 đến thôn V, xã Cao V thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu xanh trị giá 7.000.000 đồng của chị Đỗ Thị N sinh năm 2002 trú tại thôn V, xã Cao V thì bị bắt quả tang.
Đ i chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tính chất của vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương, trái với quy định của pháp luật hình sự. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.Tuy nhiên các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều đã thành khẩn khai báo, người bị hại không yêu cầu gì về việc bồi thường, bị cáo H sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo H1 hiện đang bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn chưa có biến đổi nhân cách; khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi. Đây là các tình tiết giảm nh được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nh một phần hình phạt để bị cáo sớm trở lại hòa nhập với xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự : Chị N đã nhận lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Về vật chứng vụ án:
Đ i với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, xác định đây là tài sản của chị N nên ngày 29/11/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại nói trên cho chị N là có căn cứ.
Đ i với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 29T1-898* là của ông Đào Văn S sinh năm 1977, trú tại thôn V, xã Cao V, Huyện Thanh O, TP. Hà Nội (b đ của H). Ông S không biết việc H sử dụng chiếc xe máy của ông làm phương tiện cướp giật tài sản cũng như không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đ i với ông S là có căn cứ.
Cần trả lại ông Đào Văn S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS: 29T1-898* do ông S không biết bị cáo Đào Văn H sử dụng chiếc xe để đi cướp giật tài sản. Tịch thu sung công quỹ đ i với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vsmart Bee màu đen thu của H và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen thu của H1 là phương tiện phạm tội.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUY T ĐỊNH
1.Về tội danh: Tuyên b các bị cáo Đào Văn H và Nguyễn Đa H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2.Về Điều luật áp dụng hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 10/3/2023.
- Xử phạt: Nguyễn Đa H1 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2022 đến ngày 17/02/2023.
3. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người dưới 18 tuổi, s ng phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với các bị cáo.
4. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét
5. Về tang vật, tài sản:
+ Tịch thu bán sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Bee màu đen có s IMEI1: 356764101821*, s IMEI2: 356764101821* và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 màu đen có s IMEI1: 35455610853*, s IMEI2: 354557102853* các bị can sử dụng vào việc phạm tội.
+ Trả lại ông Đào Văn S chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS: 29T1-898*.
6. Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án. Buộc Đào Văn H và Nguyễn Đa H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 29/6/2023.
- Những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú./. Nơi gửi:
| - TAND thành ph Hà Nội; - Sở Tư pháp thành ph Hà Nội; - VKSND, Công an Huyện Thanh O; - THAHS, THADS Huyện Thanh O; - Bị cáo, người bị hại, người liên quan; - UBND xã Cao V, Thanh O, Hà Nội; -UBND xã Hưng L, Ninh Gi, Hải Dương; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Tiến D ng |