vanban.org

Bản án 48/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Đ12( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/5/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Đạt phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
––––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 14/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Trần Văn Truyền

2. Lường Thị Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 09 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 38/2023/HSST ngày 03/8/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 31/8/2023 đối với bị cáo: Hà Văn Đ(tên gọi khác: không), sinh ngày 17 tháng 6 năm 1997 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn K, sinh năm 1958 và bà Hà Thị P, sinh năm 1960. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 01 tiền án về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ chấp hành xong ngày 10/7/2022.

Tiền sự: Không; về nhân thân: là người nghiện ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/5/2023 chuyển tạm giam ngày 11/5/2023. Có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Khà Văn X, sinh năm 1961; trú tại: Xóm L, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Khà Văn V, sinh năm 1984; trú tại: Xóm C, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ ngày 08/5/2023, Hà Văn Đ đi bộ đến nhà anh Hà Văn Ph, sinh năm 2001, trú tại Xóm L, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình chơi, do không có Ph ở nhà nên Đ đi về. Trên đường về, khi đi qua nhà ông Khà Văn X, thấy trong sân phía trước nhà có dựng 01 chiếc xe mô tô mang BKS 28S4-3101, màu xanh, chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa, nên Đ đã nảy sinh ý định trộm chiếc xe mô tô nói trên. Quan sát thấy không có ai, Đ đi vào sân và dắt xe mô tô ra khỏi vị trí ban đầu cách nhà ông X khoảng 30 mét thì ông X phát hiện, hô hoán “ có trộm” nên Đ đã nổ máy và điều khiển xe ra quốc lộ 15 đi theo hướng Hồi Xuân – Tòng Đậu với ý định sẽ mang đi bán để lấy tiền chi tiêu. Khi đến đoạn đường liên xóm Lác - Nà Chiềng, huyện Mai Châu thì bị ngã Hà Văn Đ đã tháo một số chi tiết như vỏ xe, biển kiểm soát, gương chiếu hậu và vứt tại ven đường. Vì nghĩ rằng xe đã tháo thì sẽ không ai mua và mọi người không ai còn ai nhận ra nên Đ đã điều khiển xe quay về nhà. Hà Văn Đ giấu xe mô tô tại mó nước thuộc xóm Củm, xã Vạn Mai, huyện Mai Châu rồi đi bộ về nhà. Do nhận thức được hành vi trộm chiếc xe mô tô của ông X là vi phạm pháp luật nên Hà Văn Đ đã đến cơ quan công an huyện Mai Châu để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Mai Châu đã thu giữ các vật chứng để phục vụ công tác Điều tra gồm:

+ 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu WAYXIN, màu xanh, số máy 2FMH-5018084, số khung H8RH7A018087, không gắn biển kiểm soát cùng các bộ phận của xe bị tháo rời gồm: 01 (một) BKS 28S4-3101, 01 (một) cốp phải xe, 02 (hai) ốp ống yến xe, 01 (một) ốp sườn xe, 01 (một) gương chiếu hậu bên trái xe, 02 (hai) cánh yếm xe đều đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô xe máy số 012806, tên chủ xe Khà Văn X.

+ 01 (một) chiếc áo phông ngắn tay màu trắng, họa tiết màu đen, 01 (một) quần đùi vải, ngắn, màu đen, họa tiết màu trắng, cạp quần chun đều đã qua sử dụng của Hà Văn Đ.

Ngày 03/6/2023 Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Mai Châu đã ra quyết định trả lại xe mô tô mang BKS 28S4-3101 cùng các bộ phận và giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Khà Văn X. Sau khi nhận lại xe ông Khà Văn X đã mang đến quan nhà anh Khà Văn V sửa chữa, thay thế tổng số tiền là 1.130.000 đồng ông yêu cầu Hà Văn Đ phải bồi thường số tiền này ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.

Tại Bản kết luật định giá tài sản số: 06/KL-ĐGTS ngày 10/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Mai Châu kết luận: Giá trị tài sản bị xâm phạm là 01 (một) chiếc xe mô tô mang BKS 28S4-3101, hiệu WAYXIN, màu xanh chủ sở hữu là ông Khà Văn X, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị là 2.320.000 đồng.

Trong quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về kết luận giám định của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự huyện Mai Châu về xác định giá trị tài sản.

Bản Cáo trạng số: 41/CT-VKS-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn Đ về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Bộ quần áo đã thu giữ của bị cáo nhưng tại phiên

tòa bị cáo không còn nhu cầu sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường tiền sửa xe mô tô cho ông Khà Văn X số tiền là 1.130.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Xét nghề nghiệp và điều kiện kinh tế thì bị cáo không có tài sản, gia đình còn nhiều khó khăn, nên đề nghị không xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Hà Văn Đ tự bào chữa: Nhất trí nội dung Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo. Lời nói sau cùng của bị cáo là rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Mai Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Hà Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình tại Cơ quan Điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa. Thể hiện lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu Hà Văn Đ đã thực hiện trộm cắp tài sản là 01 (một) chiếc xe mô tô mang BKS 28S4-3101 có trị giá là 2.320.000 đồng.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Hà Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản, tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự qui định.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng

đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”

Từ đó khẳng định Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận định:

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm Hình sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, nhân thân của bị cáo trên cơ sở đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết sau: Bị cáo có nhân thân xấu là người nghiện ma túy, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trong thời gian chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm. Các tình tiết này được qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua Điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, thể hiện bị cáo không có tài sản riêng, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Khà Văn X số tiền 1.130.000 đồng do bị cáo làm hư hỏng tài sản, căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584 và 589 Bộ luật dân sự.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự cần xử lý như sau: Bộ quần áo là tài sản của bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo không còn nhu cầu sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Hà Văn Đ phải nộp án phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Đ12( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/5/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Hà Văn Đ phải bồi thường cho người bị hại là ông Khà Văn X sinh năm 1961, trú tại: Xóm L, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình số tiền 1.130.000 (Một triệu một trăm ba mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ bồi thường,thì phải chịu lãi theo mức lãi suất được qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của luật thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 áo phông ngắn tay màu trắng, họa tiết màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi vải màu đen, họa tiết màu trắng, cạp quần chun, cũ đã qua sử dụng.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng và đặc điểm của vật chứng đã được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 51/THA ngày 30 /8 /2023.

5. Về án phí: Bị cáo Hà Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có quyền

kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ