- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H (Hoàng) phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HSST Ngày 19/7/2023 |
NHÂN DAH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Thảo - Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Gia Bình.
Ông PhA Huy Nhạ - Phó chủ tịch ủy bA mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Gia Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc –Thư ý TAD huyện Gia Bình
- Đ diện Viện ki m s t nh n d n hu ện Gia B nh t nh B c Ninh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tập – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2023/TLST-HS ngày 02/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 21/6/2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn Đ, sinh ngày 08/9/2006.
NĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12.
Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Văn L, sinh năm 1971.
Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977.
Gia đình ị cáo có 02 Ah em, bị cáo là con thứ hai.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên t a.
Người Đ diện hợp pháp cho bị cáo và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977.
Bà Huyền là mẹ đẻ bị cáo Đ. Có mặt
NĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ.
Bà PhA Thị Thu Hương – Trợ giúp viên pháp lý (Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh). Có mặt
2.Phạm Văn H, tên gọi khác (H) , sinh ngày 01/6/2006
NĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12.
Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1968.
Con bà PhA Thị T, đã chết.
Gia đình ị cáo có 03 Ah em, bị cáo là con thứ ba.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại ản án số 61/2022/HS-ST ngày 12/9/2022 của T a án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh quyết định áp dụng iện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với Phạm Văn H, thời hạn 15 tháng.
Bị cáo đAg thi hành án tại bản án số 61/2022/HSST ngày 12/9/2022 của TAD huyện Gia Bình với biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 15 tháng tại Trại giáo dưỡng số 2 (Cục C10 – Bộ công A) huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Có mặt tại phiên t a
Người Đ diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Văn H:
Ah Phạm Văn Trung H1, sinh năm 2003. Ah H1 là Ah trai bị cáo H. Có mặt.
NĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H.
Bà Nguyễn Thị Cúc – Trợ giúp viên pháp lý (Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh). Có mặt.
Bị hại: Cháu Nguyễn Văn S – sinh năm 2005. Có mặt
NĐKHKTT: Th n Vạn Ty, xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Người Đ diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Văn S.
Bà PhA Thị M, sinh năm 1977. Bà Mến là mẹ đẻ cháu S. Có mặt.
NĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
Người ảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho ị hại.
Luật sư Nguyễn Đức Thịnh – Văn ph ng luật sư Đức Thịnh (Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh). Có mặt.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn cá nhân từ trước với cháu Nguyễn Văn S, sinh năm 2005, nên hoảng 14 giờ ngày 27/10/2022, Trần Văn Đ, sinh ngày 08/9/2006 mAg theo 01 (một) con dao phóng lợn tự chế có tổng chiều dài 212 cm, gồm phần lưỡi dao có chiều dài 22 cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm được gắn vào phần chu i là ống tuýp sắt đường nh 2,1 cm có chiều dài 190 cm một mình đi đến nhà của Phạm Văn H, sinh ngày 01/6/2006 (Tên gọi hác H) để nhờ H đánh S. Khi đến nhà H, Đ để dao phóng lợn ở cổng nhà H rồi đi vào trong nhà H thì gặp ạn của H là Trần Văn Ph, sinh ngày 17/12/2007, HKTT: Bùng, Bình Dương, Gia Bình, Bắc Ninh và Vũ Thế L, sinh ngày 07/4/2007 ở Đ Lai, Đ Lai, Gia Bình, Bắc Ninh cũng đAg ở đây. Đ nói chuyện nhờ H đi đánh S thì H đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, P điều hiển xe m t nhãn hiệu Honda Wave gắn iển iểm soát 99N1-2220 của P trở Đ, H và L đến hu vực c ng ty Trần Sơn thuộc th n Phương Triện, Đ Lai, Gia Bình, Bắc Ninh, hi đi, Đ cầm theo 01 con dao phóng lợn của Đ và H cũng mAg theo 01 con dao phóng lợn của H. Tại đây, Đ ảo H cầm 02 (hai) con dao phóng lợn cùng với L đứng nấp ở trong cổng nghĩa trAg th n Phương Triện cách chỗ Đ đứng hoảng 30m, khi nào Đ hô lên thì H đi ra c n Đ, P đứng đợi ở trước cổng c ng ty Trần Sơn. Đ và P đứng đợi một lúc thì cháu Nguyễn Văn S một mình điều hiển xe m tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 99AH- 012.08 đến chỗ Đ và P. Tại đây, Đ và cháu S có x ch m ch cãi chửi nhau thì cháu S cúi xuống nhặt 01 viên gạch dọa Đ thì P mở cốp xe lấy ra 01 vỏ chai ia và đứng ra nói “Mày định đánh ai đấy?” thì cháu S không ném Đ mà vứt viên gạch đi, P cũng cất vỏ chai ia đi. Nghe thấy có to tiếng nên H để lại 01 con dao phóng lợn của H mAg theo tại nghĩa trAg và cầm theo 01 con dao phóng lợn của Đ trước đó đã chuẩn ị cùng L đi ra chỗ Đ và P. Khi ra đến nơi, H đứng ở ên tay trái của cháu S, Đ tiến đến chỗ H thì H đưa con dao phóng lợn cho Đ rồi Đ cầm dao phóng lợn chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào huỷu tay trái của cháu S làm cháu S ị thương t ch rách da, chảy máu thì nhóm của Đ lên xe m t ỏ chạy, trên đường về, Đ và H vứt con dao phóng lợn của Đ đã dùng để chém cháu S vào trong nghĩa trAg cùng với con dao ph ng lợn của H đã để ở đó từ trước. Hai con dao này sau đó Đ đã quay lại lấy và cho Trần Huy A, sinh năm 2005, HKTT: A Trụ, A Thịnh, Lương Tài, Bắc Ninh mượn. Cháu S sau đó được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Bắc Ninh từ ngày 27/10/2022 đến ngày 02/11/2023 thì ra viện.
Ngày 07/11/2023, cháu Nguyễn Văn S có đơn trình áo gửi cơ quA Cảnh sát điều tra C ng A huyện Gia Bình về nội dung vụ việc và đề nghị xử lý các đối tượng đã gây thương t ch cho cháu S theo đúng quy định của Pháp luật.
Cùng ngày 07/11/2022, cơ quA Cảnh sát điều tra C ng A huyện Gia Bình đã tiến hành xác định và hám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Quá trình hám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là đoạn đường thuộc địa phận th n Phương Triện, Đ Lai, Gia Bình, Bắc Ninh, đoạn đường chạy theo hướng Bắc- Nam, ph a Nam là hướng đi vào làng Ấp Lai, Đ Lai, hướng Bắc là hướng đi đường tỉnh lộ 285, ph a đ ng là hu vực vỉa hè rộng 5,7 m, tiếp đến là hu đất trống của c ng ty Trần Sơn, ph a tây tiếp giáp với lề đất rộng 1,7m, tiếp đến là cánh đồng th n Phương Triện. Cách đoạn đường hám nghiệm 20m về ph a nam là lối đường vào hu nghĩa trAg th n Phương Triện. Quá trình hám nghiệm h ng thu giữ dấu vết, tài liệu gì liên quA đến hành vi phạm tội của các ị cáo.
Tại giấy chứng nhận thương t ch số 305 ngày 02/12/2022 của Bệnh viện đa hoa tỉnh Bắc Ninh xác định tình trạng thương t ch của cháu Nguyễn Văn S như sau:
- Tình trạng thương t ch lúc vào viện:
+ Bệnh nhân tỉnh, Glasgow 15 điểm
+ Da niêm mạc hồng
+ Mạch 80 lần/ phút, huyết áp 110/70 mmHg, nhiệt độ 37oC, nhịp thở 18 lần/ phút.
+ Đồng tử hai ên đều.
+ Kh ng liệt thần inh hu trú.
- Ngoại hoa:
+ Vết thương mặt sau huỷu tay trái dài 05 cm, rộng 02 cm, sâu sát xương.
+ Ngọn chi hồng ấm, mạch chi rõ.
+ Phổi rì rào phế nAg rõ.
+ Tim đều, T1,T2 rõ.
+ Bụng mềm h ng chướng.
Tại ản ết luận giám định pháp y về thương t ch số 10/23/TgT ngày 23/12/2022 của Viện Pháp y Quốc gia ết luận:
“Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể bA hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 05%. Theo phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế: Thương tích của Nguyễn Văn S do vật sắc gây nên.
Ngày 05/03/2023, Trần Huy A đến C ng an huyện Gia Bình tự giác giao nộp 01 con dao phóng lợn tự chế có tổng chiều dài 212 cm, gồm phần lưỡi dao có chiều dài 22 cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm được gắn vào phần chu i là ống tuýp sắt đường nh 2,1 cm có chiều dài 190 cm. A hai nhận đây là con dao phóng lợn mà Đ đã cho A mượn trước đó, hi iết con dao này có liên quA đến hành vi phạm tội của Đ nên A đã tự giác giao nộp. Đối với 01 con dao phóng lợn c n lại mà Đ đã đưa cho A mượn, do A đã làm gẫy và vứt đi nên h ng giao nộp được.
Ngày 24/4/2023, chị Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của Đ tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng để hắc phục hậu quả cho người ị hại.
Ngày 09/03/2023, cơ quA CSĐT C ng an huyện Gia Bình đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 47, trưng cầu Viện pháp y quốc gia giám định để xác định con dao phóng lợn mà A giao nộp có thể gây ra thương t ch của Nguyễn Văn S không.
Tại ản ết luận giám định pháp y về thương t ch số 68/23/TgT ngày 17/3/2023 của Viện pháp y Quốc Gia – Bộ Y tế ết luận: Con dao tự chế gửi giám định gây ra được thương tích của Nguyễn Văn S.Tại cơ quA Điều tra, các ị cáo đã thành hẩn hai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 27/CT-VKSGB ngày 29/5/2023 của Viện iểm sát nhân dân huyện Gia Bình đã truy tố các ị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H về tội “Cố ý gây thương t ch” theo điểm a hoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đ và H thừa nhận việc truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng. Các ị cáo không có ý kiến bổ sung gì về nội dung bản cáo trạng mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Các Đ diện hợp pháp của các bị cáo chưa thành niên cũng h ng có ý iến gì về nội dung bản cáo trạng. Về phần bồi thường thiệt hại gia đình các ị cáo đồng ý bồi thường đối với các khoản như ị hại đã yêu cầu. Riêng khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần gia đình các ị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Mặt khác, nếu các bị cáo không có tài sản để thi hành án thì người Đ diện hợp pháp sẽ dùng tài sản của mình để đảm bảo thi hành án.
Bị hại cháu Nguyễn Văn S trình bày: Bản thân cháu ị các bị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H cầm dao chém gây thương t ch như ết quả giám định là đúng (Trần Văn Đ là bị cáo trực tiếp dùng dao phóng lợn chém gây thương t ch cho cháu) đến thời điểm này cháu S vẫn chưa nhận được hoản tiền nào do Đ và H ồi thường. Bản thân cháu S trong quá trình điều tra đề nghị HĐXX xem xét uộc các ị cáo Đ và H phải liên đới ồi thường cho cháu tổng số tiền 150.000.000 đồng gồm: tiền điều trị thương t ch có hóa đơn chứng từ hợp lệ, tiền thuê xe đi lại, tiền phục vụ ăn uống ồi dưỡng sức hoẻ là 25.340.000 đồng, tiền ồi thường thiệt hại về tinh thần là 124.660.000 đồng.
Về trách nhiệm hình sự: Cháu S đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Người Đ diện hợp pháp cho ị hại đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 27/CT- VKSGB ngày 29/5/2023. Trong phần luận tội đã phân t ch nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm ; i; s hoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 90; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời giA thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xă Thái Bảo, huyện Gia Bình quản lý giáo dục trong thời giA thử thách.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s hoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 90; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: p dụng điều 48 BLHS, các điều 288; điều 584; điều 585 và điều 590 BLDS: Buộc các ị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H phải liên đới ồi thường cho cháu Nguyễn Văn S các hoản: Tiền thuốc có hóa đơn hợp lệ, tiền thuê xe đi lại, tiền ồi dưỡng phục hồi sức hỏe và các chi ph hác là 25.340.000 đồng. Ngoài ra, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại tiền bồi thường tổn thất về tinh thần từ 08 tháng đến 12 tháng lương tối thiểu tương đương 14.400.000 đồng đến 21.600.000 đồng. Như vậy, cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thương cho ị hại tổng số từ 39.740.000 đồng đến 46.940.000 đồng. Trong trường hợp các bị cáo không còn tài sản của mình để bồi thường thiệt hại cho bị hại thì người Đ diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của chính mình.
Xác nhận gia đình ị cáo Đ đã tạm nộp 20.000.000 đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Bình, cần tạm giữ để đảm ảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: p dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, loại dao phóng lợn tự chế có tổng chiều dài 212 cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm được gắn vào phần chuôi là ống tuýp sắt đường kính 2,1 cm có chiều dài 190 cm.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Gia Bình, không trAh luận về tội dAh và mức hình phạt mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại h ng đồng ý với Đ diện Viện kiểm sát về mức bồi thường trách nhiệm dân sự.Tuy nhiên, cháu S vẫn yêu cầu các bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Đ diện Viện kiểm sát căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quA điểm đề nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ thừa nhận việc truy tố của VKS đối với bị cáo Đ về tội “cố ý gây thương t ch” là đúng. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị HĐXX cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ để cho bị cáo Đ được hưởng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đ diện VKS.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H thừa nhận việc truy tố của VKS đối với bị cáo Hùn về tội “cố ý gây thương t ch” là đúng. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị HĐXX cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình ị cáo và vai trò thứ yếu của bị cáo trong vụ án để cho bị cáo H được hưởng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đ diện VKS.
Các người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đ và bị cáo H h ng đối đáp, tranh luận với quan điểm của Đ diện VKS. Mặt khác, các đại diện hợp pháp cho bị cáo chưa thành niên đề nghị HĐXX xem xét cho các ị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là bà H h ng đối đáp, tranh luận lại quan điểm của đại diện VKS. Mặt khác, bà Huyền tự nguyện chuyển 2.000.000 đồng trong số tiền 20.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục THADS huyện Gia Bình cho bị cáo H để bồi thường cho bị hại.
Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị hại thừa nhận việc truy tố của VKSND huyện Gia Bình đối với các bị cáo Đ và bị cáo H là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, luật sư Đức Thịnh đề nghị cần phải xem xét xử lý hành ch nh đối với các đối tượng đi cùng với Đ và H chiều ngày 27/10/2022. Về trách nhiệm dân sự, luật sư Đức Thịnh đồng ý các khoản bồi thường mà các bị cáo và bị hại đã thoả thuận được tại phiên toà. Tuy nhiên, đối với khoản bồi thường tổn thất về tinh thần, luật sư đề nghị cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại từ 15 tháng lương tối thiều đến 20 tháng lương tối thiểu tương đương từ 27.000.000 đồng đến 36.000.000 đồng.
Người Đ diện hợp pháp cho bị hại và bị hại đồng ý với quA điểm của luật sư Đức Thịnh và không bổ sung gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố các cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã làm đúng theo quy định của ộ luật tố tụng hình sự.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Khoảng 17 giờ ngày 27/10/2022, tại hu vực trước cổng c ng ty Trần Sơn thuộc địa phận th n Phương Triện, Đ Lai, Gia Bình, Bắc Ninh, do mâu thuẫn cá nhân nên Trần Văn Đ đã rủ Phạm Văn H đi đánh nhau với cháu Nguyễn Văn S thì H đồng ý. Khi đi, H và Đ mAg theo 02 con dao phóng lợn. Sau đó, H đã đưa 01 con dao phóng lợn cho Đ để Đ chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào huỷu tay trái của cháu S gây thương t ch cho cháu S là 05% sức hỏe.
Trong vụ án này, các ị cáo đã sử dụng hung h nguy hiểm là “dao phóng lợn” gây thương t ch cho ị hại 05% sức hoẻ. Hành vi gây thương t ch ể trên của các ị cáo được quy định tại điểm a hoản 1 điều 134 BLHS. Cáo trạng truy tố các bị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H về tội “Cố ý gây thương t ch” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của c ng dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị A, gây hoAg mAg, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, hi một bị cáo khởi xướng và rủ bị cáo còn lại đi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo còn lại đồng ý ngay. Giữa các bị cáo không có sự phân công bàn bạc hay ép buộc nhau thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, các bị cáo không bị truy tố theo tình tiết phạm tội “ có tổ chức” hoặc phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội có tổ chức”.
Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này, bị cáo Đ có vai trò chính, Đ ch nh là đối tượng rủ rê H đi thực hiện hành vi phạm tội, Đ là người chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội và cũng ch nh là người chém, gây thương t ch cho Ah S. H thực hiện hành vi phạm tội với vai tr đồng phạm giúp sức cho Đ.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Đ có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp t nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Trong giai đoạn chuẩn ị xét xử, ị cáo đã tác động đến gia đình nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình số tiền 20.000.000 đồng để ồi thường hắc phục hậu quả thiệt hại xảy ra.Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b; i; s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Phạm Văn H là đối tượng có nhân thân xấu, bản thân bị cáo đã bị áp dụng iện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 15 tháng theo ản án số 61/2022/HSST ngày 12/9/2022 của TAD huyện Gia Bình, nay lại phạm tội do cố ý. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Mặt khác tại phiên toà hôm nay, bà Nguyễn Thị Huyền (Mẹ đẻ bị cáo Đ) đã tự nguyện chuyển 2.000.000 đồng trong số tiền đã tạm nộp là 20.000.000 đồng để cho bị cáo H bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do vậy, bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các ị cáo h ng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ nhận định trên thì thấy h ng cần phải thiết phải cách ly ị cáo Đ ra ngoài xã hội, cho ị cáo Đ hưởng lượng hoA hồng của pháp luật cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục ị cáo trở thành c ng dân có ch cho xã hội. Đối với bị cáo H là đối tượng có nhân thân xấu, phạm tội trong thời giA chờ thi hành án của bản án trước. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo H ra ngoài xã hội một thời giA mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ị hại là cháu S yêu cầu các ị cáo phải liên đới ồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng. Cụ thể :
Tiền điều trị thương t ch có hóa đơn chứng từ hợp lệ, tiền thuê xe đi lại và mua thuốc điều trị, tiền ồi dưỡng phục hồi sức hoẻ và các hoản chi ph hác tổng số là: 25.340.000 đồng. Tại phiên toà h m nay, các ị cáo và Đ diện hợp pháp cho các ị cáo chưa thành liên cũng tự nguyện đồng ý với các yêu cầu đồi ồi thường ể trên của ị hại. Xét thấy việc thoả thuận trên là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Riêng đối với yêu cầu của ị hại uộc các ị cáo phải liên đới ồi thường tiền tổn thất về tinh thần là 124.660.000 đồng thì thấy: Thương t ch của ị hại là 5% sức hoẻ do vậy cần uộc các ị cáo phải liên đới ồi thường tổn thất về tinh thần cho ị hại một hoản là 10 tháng lương tối thiểu ( tương đương 18.000.000 đồng) là phù hợp pháp luật. Do đó uộc các ị cáo phải liên đới ồi thường cho ị hại tổng số tiền là 43.340.000 đồng là phù hợp pháp luật.
Tại phiên toà, à Huyền đã tự nguyện chuyển 2.000.000 đồng trong số tiền 20.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục THADS huyện Gia Bình để ồi thường thiệt hại cho ị hại. Do vậy, cần xác nhận nội dung này để xem xét hấu trừ về ồi thường thiệt hại của các ị cáo cho ị hại.
Đối với thương t ch của ị hại là do ị cáo Đ trực tiếp gây ra. Mặt hác Đ là người rủ rê H tham gia đánh ị hại và Đ cũng ch nh là đối tượng chuẩn ị c ng cụ phương tiện phạm tội. Do vậy, cần uộc Đ phải có trách nhiệm ồi thường cho ị hại với số tiền nhiều gấp 02 lần số tiền H phải ồi thường cho ị hại. Cụ thể tổng số tiền các ị cáo phải liên đới ồi thường cho ị hại là 43.340.000 đồng thì Đ phải ồi thường là 28.894.000 đồng, H phải ồi thường là 14.446.000 đồng. Như vậy, sau hi hấu trừ phần tiền gia đình Đ đã tạm nộp và chuyển 2.000.000 đồng cho H để ồi thường cho ị hại thì Đ c n phải ồi thường cho ị hại là 10.894.000 đồng, H c n phải ồi thường cho ị hại là 12.446.000 đồng
Đối với số tiền gia đình ị cáo Đ đã tạm nộp 20.000.000 đ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình cần tạm giữ để đảm ảo thi hành án là phù hợp pháp luật.
Trong vụ án này, các ị cáo thuộc trường hợp đã đủ 15 tuổi và dưới 16 tuổi, do vậy cần uộc các ị cáo phải dùng tài sản của mình để ồi thường thiệt hại cho ị hại. Trong trường hợp các ị cáo h ng c n tài sản để ồi thường cho ị hại thì cần uộc các đại diện hợp pháp của các ị cáo dùng tài sản của mình để ồi thường phần c n lại cho ị hại là phù hợp pháp luật.
Tại phiên toà h m nay, Anh Phạm Văn Trung H1 (Người Đại diện hợp pháp cho ị cáo H) tự nguyện xác nhận nếu ị cáo H h ng có tài sản để ồi thường cho ị hại thì Ah Hiếu sẽ dùng tài sản của mình ồi thường cho ị hại thay cho ị cáo H. Xét đề nghị đó là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao phóng lợn tự chế có tổng chiều dài 212 cm, gồm phần lưỡi dao có chiều dài 22 cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm được gắn vào phần chu i là ống tuýp sắt đường nh 2,1 cm có chiều dài 190 cm mà ị cáo Đ dùng để gây thương t ch cho cháu Nguyễn Văn S. Xét h ng c n giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.
Liên quan trong vụ án này c n có Trần Văn P đi cùng Đ và H đến chỗ đánh nhau với cháu S, bản thân P biết việc các đối tượng hẹn đánh nhau và dùng xe mô t của mình chở theo Đ và H cầm theo hung h đến địa điểm để đánh nhau. Hành vi của P là hành vi giúp sức cho Đ và H, tuy nhiên thời điểm vụ án xảy ra P chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quA CSĐT – Công A huyện Gia Bình h ng xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn P. Công A huyện Gia Bình ra Quyết định xử phạt hành ch nh với mức phạt “Cảnh cáo” đối với Trần Văn P là phù hợp.
Đối với Vũ Thế L h ng được Đ nhờ đi đánh S, L h ng có mục đ ch gây thương t ch cho S, L h ng tham gia vào việc gây thương t ch cho S, do vậy Cơ quA điều tra h ng xem xét trách nhiệm của Vũ Thế L là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội phải chịu án ph theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Phạm Văn H (Hoàng) phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm ; i; s hoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58, Điều 90; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời giA thử thách 18 tháng t nh từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2023.
Giao ị cáo Trần Văn Đ cho UBND xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh quản lý theo dõi trong thời giA thử thách.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời giA thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định uộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của ản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s hoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58, Điều 90; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2023. Miễn chấp hành thời giA còn lại của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với bị cáo H.
Áp dụng điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3.Về trách nhiệm dân sự: p dụng điều 48 BLHS, các điều 288; 584; 585 và 590 BLDS: Buộc các ị cáo Trần Văn Đ và ị cáo Phạm Văn H phải liên đới ồi thường cho cháu Nguyễn Văn S tổng số 43.340.000 đồng. Trong đó ị cáo Đ phải ồi thường 28.894.000 đồng, ị cáo H phải ồi thường 14.446.000 đồng (Được đối trừ đi số tiền 20.000.000 đồng gia đình ị cáo Đ đã nộp). Đ c n phải ồi thường cho ị hại là 10.894.000 đồng, H c n phải ồi thường cho ị hại là 12.446.000 đồng. Trong trường hợp các ị cáo h ng còn tài sản để ồi thường cho ị hại thì cần uộc các Đ diện hợp pháp của các ị cáo dùng tài sản của mình để ồi thường phần c n lại cho ị hại.
Xác nhận gia đình ị cáo Đ đã tạm nộp số tiền 20.000.000 đồng (Trong đó ao gồm cả số tiền 2.000.000 đồng bà Huyền đã tự nguyện chuyển cho bị cáo H) để đảm bảo thi hành án.
Kể từ hi án án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến hi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án c n phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật THADS thì người được thi hành án,người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật THADS.
4. Về vật chứng của vụ án: p dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao phóng lợn tự chế có tổng chiều dài 212 cm, gồm phần lưỡi dao có chiều dài 22 cm, chỗ rộng nhất 5,5 cm được gắn vào phần chu i là ống tuýp sắt đường nh 2,1 cm có chiều dài 190 cm
5. Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Phạm Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 544.000 đồng án ph DSST. Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 622.000 đồng án ph DSST.
6. Quyền háng cáo: Áp dụng các điều 331; Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo, người Đ diện hợp pháp cho bị cáo chưa thành niên, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên, bị hại, người Đ diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị hại là chưa thành niên và người có quyền L nghĩa vụ liên quA có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận; - TAD tỉnh Bắc Ninh; - V ND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Gia Bình; - Công A huyện Gia Bình; - Chi cục THADS huyện Gia Bình; - Những ngườiTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA Thạch Thiên Hà |