vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Vũ Quốc V phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt: bị cáo Vũ Quốc V 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 16/02/2023 đến ngày 10/3/2023), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Quốc Việt phạm tội Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Xuyến.

Ông Thái Quang Định.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Quốc V, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1992 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 3, khu P, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp trước khi bị tạm giữ: công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Nguyễn Thị O; có vợ là Nguyễn Thị H nhưng đã ly hôn năm 2015; không có con; tiền án: ngày 26/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/4/2021 chấp hành xong Bản án; tiền sự: không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 16/02/2023, bị tạm giam từ ngày 25/02/2023, đến ngày 10/3/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp “Bảo lĩnh”, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.

* Bị hại:

1. Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: khu BĐ1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Gia T, Chức vụ: Chủ tịch, vắng mặt.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Văn K, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Hoàng Anh; địa chỉ: khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 24/02/2023), vắng mặt.

2. Chị Vũ Thị A, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ 3, khu BĐ1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

3. Bà Dương Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ 2, khu H 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

4. Ông Vũ Văn T, sinh năm 1958; địa chỉ: tổ 1, khu BĐ 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

5. Bà Đinh Thị T, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ 2, khu H, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

6. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; địa chỉ: tổ 3, khu BĐ 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

7. Bà Đinh Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ 1, khu H 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

8. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ 3, khu BĐ 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị O; anh Nguyễn Văn S; bà Trần Thị H; anh Phạm Văn T (bà O có mặt; anh S, bà H, anh T đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/ 01/2023 tại chợ P thuộc phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trong khi buôn bán thì giữa bà Nguyễn Thị H (bán quần áo) và bà Nguyễn Thị O (bán bánh rán) có xảy ra mâu thuẫn xô xát, cãi chửi, đánh nhau. Sau đó, con bà O là Vũ Quốc V đã đến gặp bà H để chửi bới, đe dọa. Do vẫn còn thù tức nên vào tối ngày 10/02/2023 sau khi ăn uống cùng bạn bè, Việt điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn trắng - đen, không gắn biển kiểm soát trên đường đi về nhà, đã nảy sinh ý định đốt ki-ốt bán quần áo của bà H. V biết vị trí ki-ốt bán hàng của bà H nằm sát tường lối rẽ vào cổng phụ của chợ P nên V điều khiển xe đến khu vực này. V nhặt 01 vỏ chai nước uống (loại chai có dán nhãn trà xanh không độ màu xanh, loại 500ml), lấy xăng trong bình xăng xe máy, sau đó lấy mảnh vải của găng tay nhét vào miệng chai, dốc ngược thân chai xuống cho xăng từ trong chai ngấm vào mảnh vải, rồi đi bộ ra khu vực bờ tường bên ngoài ki-ốt, V dùng bật lửa châm lửa đốt vào miếng vải gắn ở đầu chai đựng xăng, lửa bùng cháy lên thì V ném chai xăng qua ô lỗ thoáng (kích thước khoảng (30x40) cm) trên tường tại ki-ốt của bà H khiến lửa làm cháy ki-ốt bán quần áo của bà H và lan sang ki-ốt của chị Vũ Thị A, ki-ốt của bà Dương Thị H, Đinh Thị T, Nguyễn Thị B, Đinh Thị T, nhà ông Nguyễn Văn T (phía sau nhà ông T quay lưng vào chợ), lửa cháy làm hư hỏng 78m2 mái tôn của chợ P. V thấy lửa cháy ở bên trong nên đã điều khiển xe về nhà ngủ. Sau đó, đám cháy được Ban quản lý chợ và người dân xung quanh phát hiện dập tắt. Ngày 16/02/2023 V đến Công an thành phố U đầu thú.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 và kết luận định giá số 11/KL-HDĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Uông Bí kết luận:

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Vũ Thị A là 4.516.667 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Dương Thị H là 1.853.333 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của gia đình Vũ Văn T là 8.800.000đ đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Đinh Thị T là 3.206.667 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Nguyễn Thị B là 2.458.333 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Nguyễn Thị H là 76.043.333 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của hộ kinh doanh Đinh Thị T là 1.816.667 đồng.

- Tài sản bị thiệt hại của Ủy ban nhân dân phường P là 15.043.000 đồng.

Tổng giá trị của các tài sản được yêu cầu định giá là: 113.738.600 đồng. Đối với một số tài sản đã bị cháy biến dạng, do không rõ nguồn gốc xuất xứ, chủng loại, tình trạng trước khi bị cháy nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Uông Bí đã từ chối tiến hành định giá.

Bản kết luận giám định số 1619/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực góc Đông Nam bên ngoài ki-ốt của Nguyễn Thị H thuộc chợ P, có địa chỉ tại tổ 1, khu BĐ1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nguyên nhân cháy: do tác động của con người gây ra vụ cháy nói trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quốc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 38/CT-VKSUB ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Vũ Quốc V về tội "Hủy hoại tài sản" theo các điểm b, d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Đề nghị áp dụng các điểm b, d khoản 2 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm d, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Quốc V từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 16/02/2023 đến ngày 10/3/2023).

+ Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) kéo bằng kim loại dạng gấp màu trắng sáng.

+ Chuyển lại cho Công an thành phố Uông Bí 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, không gắn biển số, số khung, số máy đã bị tẩy mài kèm theo 01 (một) chìa khóa có khung tròn thu giữ của Vũ Quốc V để xử lý theo thẩm quyền.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại bà Nguyễn Thị H nhất trí với tội danh mà đại diện Viện kiểm sát truy tố; tuy nhiên về mức hình phạt, bà H cho rằng đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt là cao, chỉ xét xử bị cáo V từ 12 tháng đến 18 tháng tù là phù hợp.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: bị cáo V có 01 tiền án; phạm tội có tính chất côn đồ; mặt khác bị cáo bị truy tố tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự với hai tình tiết định khung tăng nặng là dùng chất nguy hiểm về cháy nổ và gây thiệt hại cho tài sản có giá trị lớn (hơn 113 triệu đồng); trong khi khung hình phạt áp dụng từ 02 năm đến 07 năm tù. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo V từ 42 tháng đến 48 tháng là hoàn toàn phù hợp.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát đối đáp lại, bị hại bà Nguyễn Thị H không tranh luận, đối đáp gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đánh giá về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá về tội danh của bị cáo:

Xét thấy: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các đoạn video (các dữ liệu điện tử) quay lại hình ảnh có liên quan đến vụ án; phù hợp với việc cho bị cáo thực hiện lại hành vi hủy hoại tài sản; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh; phù hợp với Kết luận giám định; phù hợp với lời khai của bị hại, của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 1619/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực góc Đông Nam bên ngoài ki ốt của bà Nguyễn Thị H thuộc chợ P, có địa chỉ tại tổ 1, khu BĐ 1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nguyên nhân cháy: do tác động của con người gây ra vụ cháy nói trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2023 và kết luận định giá số 11/KL-HDĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Uông Bí kết luận: tổng giá trị của các tài sản được yêu cầu định giá là: 113.738.600 đồng.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/02/2023, tại chợ Phương Nam thuộc tổ 1, khu BĐ1, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Quốc V có hành vi dùng chai có xăng châm lửa đốt làm cháy các ki ốt bán hàng của bà Nguyễn Thị H, bà Đinh Thị T, bà Đinh Thị T, bà Nguyễn Thị B, bà Dương Thị H, chị Vũ Thị A, cháy lan sang nhà ông Vũ Văn T, làm hư hỏng mái tôn của chợ, gây thiệt hại 113.738.600 đ (một trăm mười ba triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng).

Bị cáo Vũ Quốc V là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức việc thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện để trả thù cá nhân. Hành vi của bị cáo Vũ Quốc V đã gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Hành vi của bị cáo Vũ Quốc V đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại các điểm b, d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 38/CT-VKSUB ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

Đánh giá về hình phạt:

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Đánh giá về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo Vũ Quốc V:

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Vũ Quốc V hai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” và “phạm tội có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm d và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”: ngày 26/9/2020, bị cáo Vũ Quốc V bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 29/4/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Kết quả xác minh xác định bị cáo đã thi hành xong phần án phí hình sự. Tuy nhiên, trong thời gian bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này.

- Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ”: trong hồ sơ thể hiện vào ngày 07/01/2023 giữa bà Nguyễn Thị O (mẹ của bị cáo V) và bà Nguyễn Thị H có xảy ra mâu thuẫn, xô xát, cãi chửi, đánh nhau. Bà O đã bị bà H dùng chiếc giầy đánh vào mặt, bị sưng mặt; tuy nhiên mâu thuẫn giữa hai bà đã được Công an phường Phương Nam giải quyết xong ngay tại thời điểm đấy. Sau đó bà O về nhà, khi bị cáo V nhìn thấy mẹ mình bị bà H đánh như vậy nên đã ra chợ P tìm gặp bà H để nói chuyện, bị cáo V và bà H cũng có lời qua, tiếng lại, bị cáo V còn có lời lẽ hăm dọa bà H. Đến ngày 10/02/2023, sau khi ăn uống cùng bạn bè xong, bị cáo V điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường về do còn thù tức bà H nên bị cáo V đã nảy sinh ý định đốt ki-ốt bán quần áo của bà H để trả thù và V đã dùng xăng châm lửa đốt để ném vào ki-ốt quần áo của bà H tại Chợ P. Như vậy, bị cáo V đã có hành vi phạm tội chỉ vì những nguyên cớ, những va chạm, xích mích nhỏ nhặt trong cuộc sống. Ngoài ra với khoảng thời gian tương đối dài (khoảng 01 tháng sau khi xảy ra mâu thuẫn), bị cáo V hoàn toàn có thể tìm nhiều cách khác để giải quyết mâu thuẫn, tuy nhiên bị cáo lại dùng xăng là chất cháy nổ để ném vào ki-ốt bán quần áo của bà H ở trong chợ là rất nguy hiểm vì hành vi này của bị cáo không những hủy hoại tài sản của bà H mà còn làm hủy hoại hoặc hư hỏng tài sản của những hộ bán hàng xung quanh, thậm chí còn gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Mặt khác, bản thân bị cáo là người có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà coi thường kỷ cương pháp luật, thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Do đó, có căn cứ để chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này.

* Đánh giá về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được sai phạm; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chủ động đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại toàn bộ thiệt hại mà mình đã gây ra; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; ngoài ra, bố đẻ bị cáo V là ông Vũ Văn H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Do đó, bị cáo Việt được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo V ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm về xâm phạm sở hữu trong giai đoạn hiện nay.

Vì bị cáo Vũ Quốc V có thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 đến ngày 10/3/2023 nên khi quyết định hình phạt cần trừ đi những ngày bị cáo Việt đã bị tạm giữ, tạm giam theo Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung, tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, bị cáo Việt đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hai, cụ thể: Chị Vũ Thị A số tiền 25.000.000 đồng; bà Dương Thị H số tiền 1.853.333 đồng; gia đình ông Nguyễn Văn T số tiền 25.000.000 đồng; bà Đinh Thị T số tiền 3.206.667 đồng; bà Nguyễn Thị B số tiền 2.458.333 đồng; bà Nguyễn Thị H số tiền: 50.000.000 đồng; bà Đinh Thị T không yêu cầu bồi thường; Ủy ban nhân dân phường P số tiền 15.043.600 đồng. Các bị hại không yêu cầu bị cáo V bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Trong quá trình tham gia dập tắt đám cháy, Hợp tác xã dịch vụ Hoàng Anh đã sử dụng 39 bình cứu hỏa (là tài sản riêng của Hợp tác xã dịch vụ Hoàng Anh) để chữa cháy; quá trình điều tra bị cáo V và gia đình đã bồi thường cho Hợp tác xã dịch vụ Hoàng Anh số tiền 10.000.000đ; hai bên đã thống nhất xong, Hợp tác xã dịch vụ Hoàng Anh không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đánh giá về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, không gắn biển số, số khung, số máy đã bị tẩy mài kèm theo 01 (một) chìa khóa có khung tròn thu giữ của Vũ Quốc V. Quá trình điều tra chưa xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trên nên cần giao lại cho Công an thành phố Uông Bí để xử lý theo thẩm quyền.

- 01 (một) kéo bằng kim loại dạng gấp màu trắng sáng thu giữ của Vũ Quốc V, xét thấy đây là công cụ bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đánh giá về án phí: bị cáo Vũ Quốc V là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đánh giá về quyền kháng cáo: bị cáo; các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:

- Căn cứ: các điểm b, d khoản 2 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm d, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: bị cáo Vũ Quốc V phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

- Xử phạt: bị cáo Vũ Quốc V 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 16/02/2023 đến ngày 10/3/2023), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) kéo bằng kim loại dạng gấp màu trắng sáng.

- Giao cho Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, không gắn biển số, số khung, số máy đã bị tẩy mài kèm theo 01 (một) chìa khóa có khung tròn thu giữ của Vũ Quốc V để xử lý theo thẩm quyền.

(tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Vũ Quốc V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ