vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn Y;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: TuY bố bị cáo Lương Văn Y phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn Y;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS - ST
Ngày: 22 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Thủy và bà Lương Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣơng Văn Y - Sinh ngày 22/9/1990, tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái NguY.Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Lợi A, xã P, huyện Định Hóa, tỉnh Thái NguY; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lương Văn S - Sinh năm: 1953 và bà Lý Thị P - Sinh năm: 1963, gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình, vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/3/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Bị hại: Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Sông Công.

Địa chỉ: TDP Làng Sắn, phường Bách Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY. Người đại diện theo pháp luật là ông Đỗ Xuân H - Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T - Chức vụ Phó Giám đốc Công ty (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/3/2023).

(Vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

*. Ngƣởi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lương Văn Sự - Sinh năm: 1953 (Là bố đẻ bị cáo);

Nơi cư trú: Xóm Lợi A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái NguY.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Ngƣời làm chứng:

1. Ông Dương Văn H - Sinh năm 1977;

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường B, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY.

2. Ông Nguyễn Xuân Đ - Sinh năm 1960;

Nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định, nên vào khoảng tháng 12/2022, Lương Văn Y đến bãi đất trống gần đường cao tốc đoạn thuộc tổ dân phố Cầu Rẽo, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Y, tỉnh Thái NguY dựng lán tạm để bán ngô, bán măng và ở luôn tại đó. Trong quá trình sinh sống thấy lán tạm bị hư hỏng khó khăn trong việc sinh hoạt, đi lại nên Y đã nảy sinh ý định đi trộm cắp cây xanh trồng ven đường tại khu Công nghiệp Sông Công II thuộc tổ dân phố Sau, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY về để sửa lại lán.

Thực hiện ý định trên, khoảng 10 giờ ngày 17/3/2023, Y mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki sơn màu xanh, biển kiểm soát (BKS): 20F8 – 1305 và 01 xe cải tiến tự chế của anh Bùi Đức C (Sinh năm: 1987, trú tại xóm La Đàn, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái NguY) rồi mang theo 01 cưa lốc nhãn hiệu BDK, màu đỏ đen của Y đi đến khu vực đường vào khu Công nghiệp Sông Công II đoạn thuộc tổ dân phố Sau, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY. Tại đây, Y thấy 01 cây Sang cao khoảng 05m, đường kính gốc khoảng 30-35cm, quan sát xung quanh không có người trông coi, Y dùng cưa lốc mang theo rồi cắt sát phần gốc cây làm cho cây bị đổ xuống. Sau đó Y cắt bỏ phần ngọn cây, cắt phần thân cây làm 02 khúc rồi cho lên xe cải tiến chở về lán tạm tại tại khu vực bãi đất trống gần đường cao tốc thuộc tổ dân phố Cầu Rẽo, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Y, tỉnh Thái NguY.

Cùng ngày, Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công phát hiện bị mất tài sản (01 cây gỗ Sang) nên có dơn trình báo Công an phường L, Công an phường đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công để điều tra theo quy định pháp luật. Quá trình xác minh, truy tìm đến 10 giờ 00 phút ngày 18/3/2023 khi Lương Văn Y đang dùng cưa lốc cắt, chia cây Sang thành khúc thì bị cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công phát hiện, thu giữ vật chứng gồm: 04 khúc gỗ cây Sang có kích thước lần lượt là (dài1,56m đường kính 19cm;1,7m x30cm; 63cm x 17cm; 38cm x18cm); 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, BKS: 20F8 – 1305; 01 xe cải tiến tự chế; 01 cưa lốc nhãn hiệu BDK, màu đỏ đen; 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen, trắng rồi đưa Y cùng vật chứng về Cơ quan điều tra giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 17/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sông Công, kết luận: 01 cây Sang có chu vi gốc 1,0m (đo cách gốc 20cm), chu vi ngọn 0,6m, chiều cao cây khoảng 5,0m có trị giá 8.667.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can Lương Văn Y đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lương Văn Sự là bố đẻ bị cáo đã bồi thường cho Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công số tiền là 13.245.000 đồng. Đại diện Công ty không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 46/ CT - VKS ngày 24/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY đã truy tố bị cáo Lương Văn Y về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lương Văn Y đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận, giữ nguY quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

TuY bố: Bị cáo Lương Văn Y phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Y từ 06 – 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 máy cưa lốc, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai, đã cũ.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lương Văn Y không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Ông Lương Văn Sự) có ý kiến: Không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền mà ông đã giúp bị cáo bồi thường cho Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công.

Khi được nói lời sau cùng bị cáo không có ý kiến đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Do thấy chiếc lán ở tạm của mình bị hư hỏng, nên bị cáo Lương Văn Y nảy sinh đi trộm cắp cây xanh trồng ven đường tại khu Công nghiệp Sông Công II (Thuộc tổ dân phố Sau, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY) về để sửa lại lán. Thực hiện ý định trên, khoảng 10 giờ 20 phút ngày 17/3/2023, bị cáo Y đã dùng cưa lốc cắt trộm 01 cây Sang của Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công có trị giá là 8.667.000 đồng.

Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt tài sản có trị giá nêu trên là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định nhƣ sau:

Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lương Văn Y:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định về an ninh trật tự ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định pháp luật nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vụ việc bị phát hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét nhân thân thấy, bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, nhưng do hám lợi nên dẫn đến phạm tội. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, nhưng căn cứ nhân thân cũng như tính chất, mức độ vi phạm do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo sống phục thuộc gia đình và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 cây Sang của Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công. Quá trình điều tra bị cáo và gia đình đã bồi thường cho Công ty. Quá trình điều tra Công ty không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, tại phiên tòa đại diện Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giữ nguY lời khai tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Về số tiền mà ông Lương Văn Sự là bố đẻ bị cáo đã bồi thường cho ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công thay cho bị cáo (13.245.000 đồng), tại phiên tòa ông Sự không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền nêu trên, nên Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng vụ án như sau:

- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm lưỡi chai, xét thấy đây là tài sản không có giá trị, tại phiên tòa bị cáo cũng không yêu cầu được nhận lại chiếc mũ này, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

- Đối với chiếc cưa lốc thuộc quyền sở hữu của bị cáo, tuy nhiên, bị cáo đã sử dụng chiếc này này vào việc phạm tội, vì vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;

- Đối với 04 khúc gỗ cây Sang; 01 xe mô tô nhãn hiệu Viva Suzuki, BKS: 20F8 - 1305 và 01 xe cải tiến tự chế, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính đối với bị cáo, xử lý vật chứng vụ án ... là phù hợp với các quy định của Pháp luật cần được chấp nhận.

Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo Lương Văn Y với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Trong vụ án này, có anh Bùi Đức Công là người đã cho bị cáo Y mượn 01 xe mô tô và 01 xe cải tiến tự chế. Quá trình điều tra xác định anh Công không biết việc Y sử dụng vào việc phạm tội nên không xem xét, xử lý đối với anh Công là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước Nhà nước theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn Y;

- Điều 106, Điều 136 và Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: TuY bố bị cáo Lương Văn Y phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương Văn Y 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam ngày 23/3/2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.

4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Lương Văn Y với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuY án sơ thẩm (22/6/2023).

4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

5.Về xử lý vật chứng vụ án nhƣ sau:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen, trắng,

- Tịch thu sung, nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc máy cưa lốc nhãn hiệu BKD, màu đỏ đen.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố Sông Công và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái NguY).

6. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn Y phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

7.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.

- Bị hại (Công ty Cổ phần môi trường và Công trình đô thị Sông Công) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Ông Lương Văn Sự) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.

Cỡ chữ