vanban.org

Bản án 48/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hiệu - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-ST
Ngày 20 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Tần

2/ Bà Bùi Thị Hảo

3/ BàTrần Thị Cẩm Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:172/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ tên: NGUYỄN VĂN H; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh năm 1968 - Nơi cư trú: khu Gò Tre, xã P, huyện C, tỉnh P thôn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo:Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn M - Đã chết; mẹ đẻ: Nguyễn Thị N - Đã chết; anh, chị em ruột: có 10 người, bị cáo là con thứ chín; vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1970, con: Có 06 con; lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 28/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Bị cáo có mặt)

Luật sư được chỉ định bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Chu Văn Q - Công ty luật hợp danh H - Đoàn luật sư tỉnh P. (Vắng mặt)

Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh năm 1970. (Có mặt)

TT: Khu Gò Tre, xã P, huyện C, tỉnh P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/12/2022, sau khi đã uống rượu tại đám giỗ, Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 đi về nhà mình ở khu Gò Tre, xã P, huyện C, tỉnh P. Khi về đến nhà, H thấy vợ là chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1970 cùng cháu ngoại là Nguyễn Phương Thảo (03 tuổi) đã về và đang ngồi ở trong bếp. Do bực tức vì chị N đưa cháu Thảo đi học từ sáng, trưa không về nhà và mấy ngày gần đây chị N có thái độ bỏ mặc, không chăm lo cơm nước cho H nên H chửi và lấy chiếc mũ cối đang đội trên đầu ném về phía chị N nhưng không trúng. H tiếp tục đi lại chỗ chị N đang ngồi, dùng tay đấm 01 cái vào đầu chị N, dẫn đến hai bên rằng co, lôi nhau ra sân, vừa đi vừa cãi chửi nhau.

Khi ra đến sân, H dùng tay trái túm tóc chị N, tay phải đấm 2 đến 3 phát vào mặt và vào người chị N rồi H đi vào trong nhà ngồi tại bàn uống nước. Chị N đứng ở sân chửi bới, rồi đi vào chỗ giường ngủ của H kê ở phòng khách, dùng tay kéo rách chiếc màn đang treo ở đầu gường và nói: “Hôm nay tao kéo màn cho mày nằm trần, cho muỗi đốt mày chết đi”, chị N kéo màn ra đến sân và nói: “Hôm nay tao thách mày giết tao”. Thấy vậy, H đi lại phía giường lấy một con dao, dạng dao quắm dài 90cm, có lưỡi dao và cán đều bằng kim loại, lưỡi dao dài 27cm, bản rộng nhất 4,5cm, có 01 lưỡi sắc để dưới gầm giường đi ra sân đến chỗ chị N đang đứng. H dùng tay trái túm tóc ở đỉnh đầu chị N và kéo xuống khiến chị N ngã xuống nền sân bê tông. Lúc này chị N nằm nghiêng, co chân, hai tay bo gáy còn H đứng ở phía trong hướng đối diện, gần bụng chị N. H nói: “Tao chém chết mày” rồi đứng trong tư thế khom người, tay phải vung dao lên về phía sau và chém thẳng theo hướng từ trên xuống dưới vào phần đầu của chị N nhưng phần mũi dao bị cắm xuống nền sân bê tông, phần lưỡi dao trúng vào trán của chị N gây vết thương vùng trán đỉnh dài 03cm, sâu lóc da 01cm, rách cân galia khiến chị N bất tỉnh. H chém 01 nhát rồi vứt dao tại sân và đi vào nhà ngồi uống nước, chị N nằm ở sân khoảng 1 đến 2 phút rồi tỉnh dậy chạy vào trong bếp dắt theo cháu Thảo chạy ra phía ngoài cổng hô hoán thì gặp chị Nguyễn Thị Hiện, sinh năm 1981, trú tại khu Gò Tre, xã P, huyện C nhờ chị Hiện trình báo Cơ quan Công an. Sau đó, chị N được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện C.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 con dao, dạng dao quắm, dài 90 cm, lưỡi dao và cán dao đều bằng kim loại, lưỡi dao dài 27cm, bản rộng nhất 4,5cm, có 01 lưỡi sắc, phần lưỡi dao bị cong vênh. Thu giữ chất dịch màu nâu đỏ tại hiện trường (nghi máu người) vào 01 cuộn bông để phục vụ giám định.

Tại kết luận giám định pháp ADN số HT34.23/PY-XNSH ngày 08/02/2023 của Viện pháp y Quân đội kết luận: “Dấu vết trên cuộn bông thu tại hiện trường (ký H M1) gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của bà Nguyễn Thị N (ký H A1). Dấu vết trên con dao quắm thu tại hiện trường (ký H M2) gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể thường bị tạp nhiễm, trong đó có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của bà Nguyễn Thị N (ký H A1)”.

Về tổn thương cơ thể chị Nguyễn Thị N, tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 22/TgT/2023 ngày 13/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị N là 01% (Một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Vết sẹo vùng đỉnh đầu do tác động của vật sắc gây nên. Thái dương phải, vùng má phải, má trái, mu bàn tay không để lại tổn thương nên không xác định được cơ chế gây chấn thương”.

Tại bản Cáo trạng số: 247/CT-VKSPT-P2 ngày 17/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đã truy tố bị cáo: Nguyễn Văn H về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P giữ quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành tội: “Giết người” đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 57, Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 7 năm đến 8 năm tù về tội: “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000đồng. Bị hại không đề nghị bồi thường thêm gì.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao, dạng dao quắm, dài 90 cm, có lưỡi dao và cán dao đều bằng kim loại, lưỡi dao dài 27cm, bản rộng nhất 4,5cm, có 01 lưỡi sắc, phần lưỡi dao bị cong vênh là công cụ phương tiện phạm tội tịch thu tiêu huỷ

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố,bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.

Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định hành vi giết người của bị cáo Nguyễn Văn H như sau:

Ngày 30/12/2022, do bực tức về việc mấy ngày trước đó chị N có thái độ thờ ơ, không quan tâm, để ý đến H trong cuộc sống hàng ngày, H đã dùng tay đánh, đấm nhiều cái vào mặt, người của chị N. Sau đó, giữa hai bên tiếp tục lời qua tiếng lại, chị N kéo rách màn ở giường ngủ của H, có lời nói thách thức, H lấy dao quắm, đi ra sân, túm tóc giật chị N ngã ra sân và dùng dao quắm chém 01 nhát vào đầu của chị N, do phần mũi dao va chạm với nền sân bê tông bị cản lại, còn phần lưỡi dao tác động vào vùng trán chị N gây vết thương dài 03cm, sâu lóc da 01cm, rách cân galia, tỉ lệ tổn hại sức khỏe cho chị N là 01%. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa hai vợ chồng mà H đã dùng dao quắm chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của chị N là vợ bị cáo, hành vi của H đã thoả mãn dấu H cấu thành tội giết người được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS với tình tiết định khung có tính chất côn đồ.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng con dao quắm là hung khí nguy hiểm chém vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể quyết định đến sự sống của con người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ hung hãn, coi thường tính mạng của người khác, bị hại không chết là ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội giết người chưa đạt đã hoàn thành. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xem xét bị cáo không ph¶i chÞu t×nh tiÕt t¨ng nÆng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của phía bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao, dạng dao quắm, dài 90 cm, có lưỡi dao và cán dao đều bằng kim loại, lưỡi dao dài 27cm, bản rộng nhất 4,5cm, có 01 lưỡi sắc, phần lưỡi dao bị cong vênh là công cụ phương tiện phạm tội tịch thu tiêu huỷ

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại 6.000.000đồng và bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, hiểu biết pháp luật hạn chế, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 57, Điều 38 BLHS;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/02/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, dạng dao quắm, dài 90 cm, có lưỡi dao và cán dao đều bằng kim loại, lưỡi dao dài 27cm, bản rộng nhất 4,5cm, có 01 lưỡi sắc, phần lưỡi dao bị cong vênh. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2023)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ