- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Hùng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo giống trang phục của lực lượng an ninh nhân dân, 01 bộ ve hàm cấp bậc đại úy, 01 biển tên, số hiệu: Vũ Văn H 168-605, 02 hàm cấp bậc Trung úy, 02 …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-ST Ngày 29-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Vũ Văn H, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1995, tại Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Thôn B, xã V huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn N và bà Hà Thị H; có vợ là Tô Thị T (đã ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 09/01/2023, tạm giam ngày 12/01/2023; có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Nam Bình, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Lê Thị H2; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn H không có nghề nghiệp ổn định, không làm trong ngành Công an nhân dân nhưng đã xin và mua một số bộ quần áo công an, ve hàm, biển tên Công an mang tên “VŨ VĂN H, 168-605” để thỉnh thoảng mặc tạo niềm tin cho mọi người. Ngày 31/12/2022, H và chị Lê Thị H1 quen nhau qua mạng xã hội Facebook. H giới thiệu đang công tác tại Phòng An ninh, Công an tỉnh Thái Bình, đồng thời, gửi cho chị H1 01 bức ảnh mặc trang phục lực lượng an ninh nhân dân, đeo ve hàm đại úy, mang biển tên Vũ Văn H, số hiệu 168-605. Hai bên đã sử dụng tài khoản zalo để nói chuyện, tìm hiểu nhau. Trưa ngày 08/01/2023, cả hai gặp mặt tại Thái Bình. Do H đang vay nợ ngân hàng 40.000.000 đồng, không có tiền trả nên H tìm cách chiếm đoạt tiền của chị H1. Khoảng 23h cùng ngày, H nhắn tin cho chị Hương qua zalo, nội dung H có khả năng lo được cho chị H1 hưởng chế độ hộ nghèo, vì biết hoàn cảnh kinh tế chị H1 khó khăn. H đưa ra hai mức: một là, hưởng 2.500.000 đồng/1 tháng, chi phí 20.000.000 đồng; hai là hưởng 4.500.000 đồng/1 tháng, chi phí từ 40.000.000 đến 50.000.000 đồng. Chị H1 hỏi H ngoại tỉnh có làm được không, H khẳng định H làm trong ngành Công an nên làm được. Ngoài ra, H còn nói nếu nộp tiền ngay thì tháng sau nhận được luôn tiền và được trả lại 30.000.000 đồng trong số 50.000.000 đồng đã nộp trước đó. Chị H1 đồng ý làm và hẹn H chiều ngày 09/01/2023, ra Hải Phòng nhận tiền. Ngày 09/01/2023, H mặc trang phục Công an nhân dân, đeo ve hàm, biển tên đi xe khách từ Thái Bình đến Hải Phòng. Đến 16h20 cùng ngày, H xuống xe tại khu vực cổng chùa Cao Linh, Quốc lộ 10, xã Bắc Sơn, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị H1 đón, đưa H đến quán Cơm Quê ở thị trấn An Dương. Do tin tưởng H sẽ giúp được, nên trước đó, chị H1 đã gọi điện thoại cho chị Lê Thị H2 (em gái) hỏi vay 50.000.000 đồng nhưng không nói vay tiền để làm gì và chị H1 hẹn chị H2 khoảng 17 giờ cùng ngày mang tiền đến quán Cơm Quê. Chị H2 sợ chị H1 bị lừa đảo nên đã đến cơ quan công an trình báo. Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến quán Cơm Quê kiểm tra nên H chưa kịp nhận số tiền trên.
Khi được yêu cầu về làm việc tại Công thị trấn An Dương, Vũ Văn H đã khai ra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị H1 như nêu trên và Cơ quan Công an thu giữ trên người H: 01 bộ quần áo giống trang phục của lực lượng an ninh nhân dân, 01 bộ ve hàm cấp bậc đại úy, 01 biển tên, số hiệu: Vũ Văn H 168-605, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 192. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại thôn B, xã V huyện V, tỉnh Thái Bình thu giữ: 02 hàm cấp bậc Trung úy, 02 hàm cấp bậc Thượng úy, 02 ve, 04 biển tên số hiệu Vũ Văn H, đội trưởng 168-605, 01 mũ kê pi, 01 công an hiệu, 02 khóa số 8, 01 áo phản quang giống của lực lượng cảnh sát cơ động, 01 bộ quần áo trang phục của lực lượng Cảnh sát cơ động, 03 bộ quần áo giống của lực lượng An ninh.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSAD ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị H1 như nôi dụng nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu quan điểm: Phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38 và 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 27 đến 30 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo giống trang phục của lực lượng an ninh nhân dân, 01 bộ ve hàm cấp bậc đại úy, 01 biển tên, số hiệu: Vũ Văn H 168-605, 02 hàm cấp bậc Trung úy, 02 hàm cấp bậc Thượng úy, 02 ve, 04 biển tên số hiệu Vũ Văn H, đội trưởng 168-605, 01 mũ kê pi, 01 công an hiệu, 02 khóa số 8, 01 áo phản quang giống của lực lượng cảnh sát cơ động, 01 bộ quần áo trang phục của lực lượng Cảnh sát cơ động, 03 bộ quần áo giống của lực lượng An ninh; Tịch thu nộp sang sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 192. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Bị cáo nói dối mình làm việc tại Phòng An ninh Công an tỉnh Thái Bình và có khả năng giúp người khác nhận trợ cấp hộ nghèo để bị hại chị Lê Thị H1 tin là bị cáo có khả năng giúp cho chị H1 được nhận trợ cấp hộ nghèo với mục đích chiếm đoạt của chị H1 số tiền 50.000.000đồng tại quán Cơm Quê, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 09/01/2023. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối với mục đích để chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của bị hại nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa chiếm đoạt được số tiền 50.000.000 đồng của bị hại là ngoài ý muốn của bị cáo nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Từ phân tích trên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, trừng phạt bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” nên áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 bộ quần áo giống trang phục của lực lượng an ninh nhân dân, 01 bộ ve hàm cấp bậc đại úy, 01 biển tên, số hiệu: Vũ Văn H 168-605 bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 hàm cấp bậc Trung úy, 02 hàm cấp bậc Thượng úy, 02 ve, 04 biển tên số hiệu Vũ Văn H, đội trưởng 168-605, 01 mũ kê pi, 01 công an hiệu, 02 khóa số 8, 01 áo phản quang giống của lực lượng cảnh sát cơ động, 01 bộ quần áo trang phục của lực lượng Cảnh sát cơ động, 03 bộ quần áo giống của lực lượng An ninh là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và giá trị nhỏ nên tịch thu tiêu hủy. Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7 và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 192, bị cáo dùng liên lạc với bị hại để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38, 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 09 tháng 01 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo giống trang phục của lực lượng an ninh nhân dân, 01 bộ ve hàm cấp bậc đại úy, 01 biển tên, số hiệu: Vũ Văn H 168-605, 02 hàm cấp bậc Trung úy, 02 hàm cấp bậc Thượng úy, 02 ve, 04 biển tên số hiệu Vũ Văn H, đội trưởng 168-605, 01 mũ kê pi, 01 công an hiệu, 02 khóa số 8, 01 áo phản quang giống của lực lượng cảnh sát cơ động, 01 bộ quần áo trang phục của lực lượng Cảnh sát cơ động, 03 bộ quần áo giống của lực lượng An ninh; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 192 (Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương; - TAND thành phố Hải Phòng - Phòng PV 06 và PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |