- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Khánh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Khánh T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HS-ST Ngày 22/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Văn Điền
2. Ông Ma Doãn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 11/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST - HS ngày 08/11/2023 đối với bị cáo:
Đặng Khánh T (tên gọi khác: không), sinh ngày 15 tháng 8 năm 1989, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: ao đ ng tự do; trình đ văn hóa: ớp 08/12; dân t c: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Khánh L và bà Bàn Thị T1; vợ Trung Thị P (chung sống như vợ chồng), và 01 con năm sinh 2021; tiền sự: không; tiền án: 01 (Bản án số 45/2016/HSST ngày 16/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt 07 năm tù về t i Mua bán trái phép chất ma túy). Đến ngày 11/6/2021 đã chấp hành án xong, đến nay chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày (27/6/2023 đến ngày 06/7/2023). Ngày 06/7/2023 bị cáo được trả tự do và bị áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú, nay tại ngoại. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, Tổ công tác Công an xã B đang làm nhiệm vụ tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bắt quả tang Đặng Khánh T, sinh năm 1989, trú tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, T đã tự nguyện xuất trình những đồ vật, tài liệu gồm: T tự nguyện xuất trình từ túi quần bò màu đen đằng trước, bên trái T đang mặc 01 (M t) gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh, mở ra bên trong có chứa chất b t màu trắng nghi là ma túy. Tiến hành trích mẫu chất b t màu trắng trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (Thuốc thử Heroine) do B Công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu A1.
Cùng ngày Công an xã B đã bàn giao người bị bắt cùng toàn b hồ sơ vụ việc để Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn lập hồi 16 giờ 15 phút, ngày 27 tháng 6 năm 2023 xác định: Cân riêng toàn chất b t màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng 0,21g (Không phẩy hai m t gam). Cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn đã niêm phong trong 01 (M t) phong bì mới ký hiệu B1 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu A1 được cho vào phong bì mới ký hiệu B2.
Tại Kết luận giám định số: 218/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 có khối lượng là: 0,21g (Không phẩy hai một gam)”
Quá trình điều tra, truy tố Đặng Khánh T khai nhận: 01 (M t) gói nhỏ có chứa chất b t màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do T mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 27/6/2023, T từ nhà đi b ra Quốc l C, rồi đi nhờ xe mô tô của m t người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, để lên khu vực chợ xã N thu c thôn K, xã N, huyện C tìm mua ma túy để sử dụng. Khi lên đến nơi T xuống xe, đi tìm mua ma túy thì gặp m t người đàn ông khoảng 40 tuổi trông giống người nghiện (Không biết họ, tên, địa chỉ) nên đã hỏi mua ma túy với người đàn ông trên và được người đàn ông trên đồng ý bán. T đưa cho người đàn ông đó số tiền 80.000₫ (T2 mươi nghìn đồng) rồi người đàn ông đưa cho T 01 (M t) gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh, bên trong có chứa chất b t màu trắng là ma túy. Mua được ma túy, T cất gói ma túy vào túi quần đằng trước, bên trái của chiếc quần bò màu đen đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của m t người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ để về nhà. Khi đến đoạn đường rẽ vào nhà thu c thôn Bản Tuốm, xã B thì T xuống xe đi b , sau đó bị Công an xã B bắt quả tang và thu giữ gói ma túy vừa mua được.
Về vật chứng: Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ sau khi giám định còn lại 0,17 (Không phẩy m t bảy gam), cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong hiện đang tạm giữ và bảo quản theo quy đúng quy định.
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKSCĐ ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Đặng Khánh T về t i: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên - Đại diện viện kiểm sát huyện C, tỉnh Bắc Kạn thực hành quyền công tố đọc bản luận t i và đề nghị HĐXX: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng. Tuyên bố bị cáo Đặng Khánh T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy"; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52/B HS. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù (được trừ đi thời gian đã tạm giữ Đặng Khánh T từ ngày 27/6/2023 đến ngày 06/7/2023). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249/B HS.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1Điều 47/B HS; Khoản 1, khoản 2 Điều 106/BLTTHS:
- Đối với 0,17g ma túy loại Heroine sau giám định còn lại là vật cấm tàng trữ và các vỏ phong bì, bao gói cũ không có giá trị đều tịch thu tiệu hủy. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136/B TTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đơn xin miễn án phí của bị cáo. Bị cáo được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Khánh T không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
ời nói lời sau cùng của bị cáo trước khi nghị án: Bị cáo Đặng Khánh T nhận hành vi phạm t i của mình và xin H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo đi tập trung cải tạo tốt sớm được về với gia đình và xã h i.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cở sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân huyện Chợ Đồn trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, những người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều đúng.
Về hành vi phạm t i của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình như n i dung bản Cáo trạng. ời khai nhận t i của bị cáo phù hợp với biên bản phạm t i quả tang, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án, H i đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, tại khu vực thôn Bản Tuốm, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Cơ quan Công an xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang, thu giữ trên người Đặng Khánh T đang có hành vi tàng trữ 0,21g (Không phẩy hai m t gam) ma túy (Heroine) để nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
Hành vi của bị cáo Đặng Khánh T đã đủ yếu tố cấu thành t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/B HS. Điều luật có n i dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ….;
b) ….;
c) Hêrôin, côcain, M, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Thấy Đặng Khánh T đã được UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh số 2724/QĐ-UBND,ngày 31/12/2013 và theo lời khai của bị cáo có sử dụng chất ma túy; năm 2016 bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về t i mua bán trái phép chất ma túy. Nên nhân thân bị cáo không tốt.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 45/2016/HSST ngày 16/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt T 07 năm tù về t i Mua bán trái phép chất ma túy, mặc dù đến ngày 11/6/2021 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến nay chưa được xóa án tích, nên lần phạm t i này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự.
Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng số: 48/CT-VKSCĐ, ngày 10/10/2023 là có căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, đề nghị không phạt bổ sung, miễn án phí, xử lý vật chứng là phù hợp.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức đ nguy hiểm cho xã h i của hành vi phạm t i, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. H i đồng xét xử thấy ngày 27/6/2023 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là 0,21g với mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách đ c quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương và phạm t i thu c T hợp “tái phạm”. Khi thực hiện hành vi phạm t i bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết, nhận thức về pháp luật. Bị cáo đang trong thời gian chưa được xóa án tích nhưng không tự giác tu dưỡng rèn luyện, không làm chủ được bản thân vì mục đích cá nhân dẫn đến phạm t i tàng trữ trái phép chất ma túy.
Để đảm bảo tính nghiêm minh công bằng pháp luật hình sự cần phải áp dụng mức án phạt tù tương xứng với tính chất, mức đ hành vi phạm t i của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã h i đi tập trung cải tạo m t thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và bị cáo khai tại phiên tòa xét thấy bị cáo thu c diện h ngh o, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có sở hữu tài sản có giá trị, sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là 0,17g ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành và phong bì, bao gói cũ liên quan đến việc đóng gói mở niêm phong không có giá trị đều bị tịch thu tiêu hủy.
. Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ theo lời khai của bị cáo T là người đã bán ma túy (H) cho T tại khu vực chợ N thu c thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra và tại phiên tòa bị cáo T không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên có căn cứ xử lý là đúng theo quy định của pháp luật
. Về án phí: Bị cáo T là đồng bào dân t c thiểu số và sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế – xã h i đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 – 2025 theo quyết định số: 861/QQĐ-TTg, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Nên cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Khánh T phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Căn Cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của B luật hình sự.
Xử phạt: Đặng Khánh T: 20 (Hai mươi) tháng tù được trừ đi thời gian bị cáo, bị bắt tạm giữ từ ngày 27/6/2023 đến ngày 06/7/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Không phạt bổ sung bị cáo theo khoản 5 Điều 249/B HS.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của B luật hình sự; Khoản 1 Điều 106 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của B luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (m t) phong bì ký hiệu B2. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có 05 (năm) chữ ký không đọc được và các dòng chữ “T”, “Đặng Khánh T”, “Nguyễn Viết H”, “Ngọc Mạnh H1” (bên trong có một giấy gói màu trắng có dòng kẻ màu xanh, một vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu A1)
- Tịch thu tiêu hủy 01 (m t) phong bì ký hiệu T123, phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 0,17g ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ gửi giám định)
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa CQCS Điều tra Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục THA dân sự huyện Chợ Đồn ngày 12 tháng 10 năm 2023)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đơn xin miễn án phí của bị cáo. Bị cáo được miễn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở Tư pháp Bắc Kạn; - VKSND huyện Chợ Đồn; - Công an huyện Chợ Đồn; - THADS huyện Chợ Đồn; - Bị cáo; - ưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Cạn |