vanban.org

Bản án 48/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HS-PT
Ngày: 22-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng

Ông Lê Khắc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Thanh T. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2022/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Thanh T, sinh năm 1982, tại: tỉnh Vĩnh Long; Nời thường trú: số k2, P4, TP SĐ, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn C, sinh năm: 1961 (chết) và con bà Huỳnh Thị Tuyết L, sinh năm: 1963; vợ: Nguyễn Thị Chúc X, sinh năm 1990; con: có 01 người sinh năm 2011; tiền sự: tiền án: không; Tạm giữ, Tạm giam: không; hiện bị cáo đang tại ngoại tại: số k2, P4, TP SĐ, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.

Trong vụ án còn có người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26/3/2022 đến ngày 02/4/2022 Phạm Thanh T đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản các vụ như sau:

- Vụ 1: Vào khoảng 02 giờ, ngày 26/3/2022 Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66H4-9646 đi đến vựa nông sản B L, lô số 57-58 do chị Huỳnh Thị Huyền A làm chủ, có rào lưới B40 nhưng chỉ cột dây, không có người trông Phạm Thanh T đi đến tháo dây, mở lưới B40 đi vào lấy 02 bịch tỏi trọng lượng 40kg, sau đó đem giấu dưới dạ cầu Sắt Quay. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 26/3/2022 Phạm Thanh T mang 02 bịch tỏi đến vựa Cô Bê bán với giá 500.000 đồng, số tiền có được Phạm Thanh T tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ 2: Vào khoảng 02 giờ, ngày 01/4/2022 Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66H4-9646 đi đến vựa nông sản B M, lô số 33-34 do ông Hồ Phi H làm chủ, không hàng rào, cũng không người trông giữ, Phạm Thanh T vào lấy tài sản gồm:

- 01 bịch tỏi dơ trọng lượng 20kg;

- 01 bịch tỏi sạch trọng lượng 05kg;

- 02 bịch củ hành đỏ trọng lượng 20kg;

- 02 bịch khoai tây trọng lượng 20 kg;

Sau đó Phạm Thanh T đem giấu dưới gầm cầu Sắt Quay cất giấu.

- Vụ 3: Sau khi lấy nông sản tại vựa nông sản B M, đem đến gầm cầu Sắt Quay cất giấu. Cùng ngày Toàn tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 66H4-9646 đến vựa nông sản S T, lô 38-39 do ông Lê Tấn T làm chủ, không người trông giữ nên đi vào lấy tài sản gồm:

- 01 bịch hành phi trọng lượng 10 kg;

- 02 bịch tỏi sạch trọng lượng 20 kg;

- 07 bịch tỏi sấy trọng lượng 70 kg;

- 01 bịch dưa cải trọng lượng 10 kg;

- 02 bịch khoai lang Nhật trọng lượng 20 kg;

Sau đó Toàn đem đến dưới gầm cầu Sắt Quay.

Đến khoảng 06 giờ ngày 01/4/2022 Phạm Thanh T mang toàn bộ số nông sản đến vựa nông sản Cô Bê bán cho chị Nguyễn Thị Tuyết T với giá 1.500.000 đồng, số tiền có được Toàn tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ 4: Vào khoảng 02 giờ, ngày 02/4/2022 Phạm Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66H4-9646 chạy đến vựa nông sản B M, lô số 33-34 chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, do ông Hồ Phi H làm chủ. Phạm Thanh T nhìn thấy vựa nông sản không có hàng rào, không người trông giữ nên đi vào lấy tài sản gồm:

- 02 bao tỏi trọng lượng 40kg;

- 01 bịch cà tím trọng lượng 20kg;

- 01 bịch cà rốt trọng lượng 20kg;

- 04 bịch củ hành tây trọng lượng 40kg;

- 04 bịch khoai ngọt trọng lượng 40kg;

- 01 khay cà chua trọng lượng 20kg;

- Vụ 5: Sau khi lấy nông sản tại vựa nông sản B M cùng ngày, Phạm Thanh T tiếp tục đi đến vựa nông sản S T, lô 38-39 do ông Lê Tấn T làm chủ cũng không có hàng rào, không người trông giữ đi vào lấy tài sản gồm:

- 04 bịch tỏi sấy trọng lượng 80 kg;

- 04 bịch tỏi dơ trọng lượng 80kg;

- 01 bịch khoai ngọt trọng lượng 10kg;

- 01 bịch hành phi trọng lượng 30kg;

Sau đó, Toàn đem số nông sản trên đến dạ cầu Sắt Quay thuộc Phường 1, thành phố Sa Đéc cất giấu.

Đến khoảng 06 giờ ngày 02/4/2022 Phạm Thanh T mang số nông sản lấy được nêu trên đến vựa nông sản Cô Bê lô số 64-65 chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc thỏa thuận bán cho chị Nguyễn Thị Tuyết T với giá 2.000.000 đồng, số tiền có được Phạm Thanh T tiêu xài cá nhân hết.

Đối với ông Lê Tấn T và ông Hồ Phi H sau khi phát hiện bị mất nông sản đã xem lại camera xác định Phạm Thanh T là người lấy trộm nên đến Công an Phường 2, thành phố Sa Đéc trình báo sự việc.

Tại bản kết luận định giá số 16/HĐ.ĐGTS ngày 05/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sa Đéc kết luận:

1. Tài sản bị chiếm đoạt ngày 02/4/2022 tại vựa S T, lô 38-39, chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tất cả không thu hồi lại được. Tổng giá trị tài sản là 4.930.000 đồng.

2. Tài sản bị chiếm đoạt ngày 02/4/2022 tại vựa B M, lô 33-34, chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tất cả không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản là 2.640.000 đồng.

3. Tài sản bị chiếm đoạt ngày 01/4/2022 tại vựa S T, lô 38-39, chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tất cả không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản là 3.080.000 đồng.

4. Tài sản bị chiếm đoạt ngày 01/4/2022 tại vựa B M, lô 33-34, chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tất cả không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản là 1.000.000 đồng.

5. Tài sản bị chiếm đoạt ngày 26/3/2022 tại vựa B L, lô 57-58 chợ nông sản Sa Đéc thuộc Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, không thu hồi được, giá trị tài sản là 920.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Phạm Thanh T chiếm đoạt là 12.570.000 đồng.

Tại bản án số 53/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm Tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, bị cáo Phạm Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo chín tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không đưa ra được tình tiết chứng cứ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thanh T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Trong các ngày 26/3, 01/4 và 02/4/2022, lợi dụng lúc tài sản không người trông coi Phạm Thanh T đã chiếm đoạt nhiều hàng hóa nông sản của nhiều bị hại, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.570.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm qui kết bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phạm Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi lượng hình tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; cha bị cáo là liệt sĩ theo quy định tại điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã thực hiện hành vị trộm từ hai lần trở lên nên đã xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 tháng tù là phù hợp với qui định pháp luật và phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Bị cáo Phạm Thanh T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng bị cáo không xuất trình được những chứng cứ gì mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.

[3] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[4] Bị cáo là con của Liệt sĩ nên theo quy định pháp luật được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Phạm Thanh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Thanh T.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ngày 30/12/2016.

Bị cáo Phạm Thanh T được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ