vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/07/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan A được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

[2] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Lê Thị Lan A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lan A do chị Lan A không yêu cầu. Anh Nguyễn Văn H có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Lan A - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan A được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 tháng 7 năm 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh A tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Lan A, sinh năm 1993

HKTT: thôn 7, xã M, huyện Đ, tỉnh A.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989

HKTT: thôn 7, xã M, huyện Đ, tỉnh A.

Hiện đang ở nước ngoài.

(Chị Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2023 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lê Thị Lan A trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 09/01/2017 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh A. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó anh H đi Đài Loan đến nay vẫn chưa về, từ đó giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do vợ chồng xa nhau và bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên ngăn nhưng vợ chồng anh chị vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lan A đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: chị Lê Thị Lan A xác định vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017, hiện nay cháu Đ đang sống cùng với chị Lan A. Sau khi ly hôn chị Lan A đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Hải Đ cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Lê Thị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn: Chị Lê Thị Lan A xin tự nguyện chịu toàn bộ.

- Phía bị đơn anh Nguyễn Văn H hiện nay đang ở nước ngoài được thể hiện tại văn bản số 6571/QLXNC-P5 ngày 28/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác nhận: “Nguyễn Văn H, sinh ngày 08/8/1989, đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 12/12/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Do chị Lan A không biết địa chỉ của anh H ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã báo bà Nguyễn Thị V(mẹ đẻ anh H) và được bà V cung cấp thông tin như sau: bà là mẹ đẻ của anh H và là mẹ chồng của chị Lan A. Các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh H gia đình đã nhận được, gia đình có thông báo cho anh H biết thông qua điện thoại và yêu cầu anh H cung cấp địa chỉ của anh ở nước ngoài nhưng anh H không cung cấp và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Lan A theo quy định của pháp luật.

Về con chung: anh H và chị Lan A có một con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017, hiện nay cháu Đ đang sống cùng với chị Lan A. Chị Lan A có nguyện vọng được nuôi con khi ly hôn, bà V có thông báo cho anh H được biết và anh H cũng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: bà V xác định không có gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về những nội dung sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Lan A. Chị Lê Thị Lan A được ly hôn với anh Nguyễn Văn H;

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Lê Thị Lan A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lan A không yêu cầu. Anh H vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị Lan A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Lê Thị Lan A nộp đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn H tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn, chị Lan A trình bày hiện anh H đang ở nước ngoài. Tại văn bản số 6571/QLXNC-P5 ngày 28/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác nhận: “Nguyễn Văn H, sinh ngày 08/8/1989, đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 12/12/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh A.

Trong vụ án này anh H không có mặt ở Việt Nam và chị Lan A đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Chị Lan A đề nghị xin ly hôn với anh H và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh H tại Việt Nam là thôn 7, xã Minh Phú, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ mà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài cho Tòa án được. Tòa án đã làm việc thông qua thân nhân của anh H là bà Nguyễn Thị Hòa (mẹ đẻ anh Hùng) thì thấy gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo cho anh Hùng biết, yêu cầu anh Hùng cung cấp địa chỉ hiện nay nhưng anh Hùng không cung cấp nên gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh Hùng ở đâu tại nước ngoài. Như vậy, anh H đã cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Chị Lê Thị Lan A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Lan A, anh Hùng.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan A và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh A vào ngày 09/01/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị Lan A và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do vợ chồng xa nhau và bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên ngăn nhưng vợ chồng anh chị vẫn không tìm được tiếng nói chung. Hội đồng xét xử thấy rằng chị Lan A và anh H đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống xa nhau đã một thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Lan A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị Lan A được chấp nhận.

- Về con chung: chị Lan A và anh H có một con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017, hiện nay cháu Đ đang ỏ với chị Lan A. Sau khi ly hôn chị Lan A đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên và chị không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy hiện nay chị Lan A đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và có đầy đủ điều kiện nuôi con, cháu Đ hiện vẫn còn nhỏ. Mặt khác, anh H đang ở nước ngoài nên không có thời gian cũng như điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ. Do vậy, cần giao con chung là cháu Nguyễn Hải Đ cho chị Lan A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con: anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Lan A tự nguyện không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: chị Lan A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, 4 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Lan A được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

[2] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Lê Thị Lan A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 26/9/2017. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lan A do chị Lan A không yêu cầu.

Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Lê Thị Lan A đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0000466 ngày 04/4/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh A.

[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Chị Lê Thị Lan A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Thời hạn kháng cáo của anh H là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ