vanban.org

Bản án 48/2023/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, anh C -Pengcheng: Xác Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dang Thị T - Cai pengcheng"
  • Tòa quyết gì? 2015; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 30/08/2023

“V/v: Khởi kiện xác nhận cha mẹ cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hồ Đức Quang Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng Ông Nguyễn Tất Thể Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết Ngày 30/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 50/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2023 về việc "Khởi kiện xác nhận cha mẹ cho con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXX-ST ngày 26/7/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐ- ST ngày 11/8/2023 giữa: - Nguyên đơn: + Chị Đặng Thị T, sinh ngày 12/02/1993. Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt có đơn xin vắng). + Anh C - P, sinh ngày 20/02/1991. Địa chỉ: Thôn H, đường P, thành phố T, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. (Vắng mặt có đơn xin vắng). - Bị đơn: + Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày: 27/9/2000. Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt không có lý do). + Anh Đặng Duy D, sinh ngày: 15/4/1996. Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan.(Vắng mặt có đơn xin vắng)

- Người tham gia tố tụng khác: Bà Trần Thị N, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt). NỘI DUNG VỤ ÁN Theo Đơn yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con; bản tự khai của chị Đặng Thị T, anh C - Pengcheng cũng như các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau: Chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng có quan hệ tình cảm với nhau và đã sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2019. Ngày 15/3/2020, chị Đặng Thị T sinh cháu Đặng Thái Minh P tại bệnh viện đa khoa thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, tại thời điểm này, chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đang là vợ chồng hợp pháp (mặc dù đã ly thân). Vì vậy, chị Đặng Thị T và anh C - P1 đã nhờ vợ chồng em trai của chị T là chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Duy D đứng tên khai sinh là cha mẹ trên giấy khai sinh cho cháu P. Ngày 19/12/2022, chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đã được Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình số 156/2022/QĐST-HNGĐ. Ngày 06/3/2023 chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Đặng Thái Minh P, chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xác định anh C - P1 và chị Đặng Thị T là cha mẹ đẻ của cháu Đặng Thái Minh P, sinh ngày 15/3/2020 (Trích lục khai sinh số 37/TLKS-BS ngày 14/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N thể hiện: Cháu Đặng Thái Minh P, sinh ngày: 15/3/2020, nơi sinh: Bệnh viện Đa khoa thành phố V, tỉnh Nghệ An; họ và tên người mẹ: Nguyễn Thị H; họ, tên người cha: Đặng Duy D). Bị đơn anh Đặng Duy D trình bày (tại Văn bản ngày 10/5/2023) như sau: Anh Đặng Duy D hiện đang lao động tại Đài Loan. Được biết anh C - P1 và chị Đặng Thị T khởi kiện xác nhận là cha mẹ đẻ của cháu Đặng Thái Minh P. Anh D là em trai ruột của chị Đặng Thị T; chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng quen biết, tìm hiểu, có quan hệ yêu đương và sống chung với nhau và ngày 15/3/2020 sinh cháu Đặng Thái Minh P, thời gian này chị T và anh Võ Văn S đang là vợ chồng hợp pháp nên chị T đã nhờ vợ chồng anh là Nguyễn Thị H và Đặng Duy D đứng tên khai sinh (là cha mẹ trên giấy khai sinh cho cháu P). Vì vậy, anh D đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xác nhận cha mẹ cho con của anh C – P và chị Đặng Thị T. Ngoài ra, anh Đặng Duy D ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ cho mẹ đẻ là bà Trần Thị N, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến cũng như không có phản hồi bằng văn bản. Người tham gia tố tụng khác: Bà Trần Thị N đồng ý sự ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ của anh Đặng Duy D và không có yêu cầu về sự nhận ủy quyền này. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đặng Thị T và anh C, P1, bị đơn anh Đặng Duy D vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt không có lý do. Đại diện VKSND tỉnh Hà T ĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, p hân tích nộ i dun g vụ việc, đã đề ngh ị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 88, 8 9, 101, 102, 12 3, 128 L uật Hôn nhân gia đình năm 2014; các Điều 28, 37, 39, 22 8, 271, 273, kh oản 2 Điều 47 9, Bộ luật T ố tụn g dân sự năm 2015 chấp nhận y êu cầu khởi kiện của nguy ên đơn : Xác định chị Đặng Thị T và anh C - P1 là cha, mẹ đẻ của cháu Đặng Thái Minh P. Về án phí: Miễn án ph í cho ng uy ên đơn theo quy định. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thủ tục tố tụng: [1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con nên quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [1.2] Nguyên đơn anh C - P1 là người nước ngoài, mang quốc tịch Trung Quốc; nơi cư trú Thôn H, đường P, thành phố T, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, quá trình giải quyết vụ án anh C - Pengcheng có mặt tại Việt Nam. Bị đơn anh Đặng Duy D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan (theo thông tin cung cấp của Cục Q, tại Văn bản số 17771/QLXNC-P5 ngày 13/7/2023 anh Đặng Duy D đã xuất nhập cảnh 6 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 08/6/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh) nên căn cứ quy định tại các Điều 37, 39; 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. [1.3] Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng, bị đơn anh Đặng Duy D vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt không có lý do. Đây là phiên tòa mở lần thứ hai, bị đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị H vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các bên theo thủ tục chung. [1.4] Về việc không triệu tập anh Võ Văn S, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ H, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại Quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình số

156/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 19/12/2022 của Tòa án nhân dân tĩnh Hà Tĩnh đã công nhận chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S về phần con chung: Có 01 con chung là Võ Đặng Thiên L, sinh ngày 17/02/2012. Đây là sự việc đã được giải quyết bằng quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không cần phải đưa anh Võ Văn S tham gia tố tụng trong vụ án này. [1.5] Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S có 01 con chung là cháu Võ Đặng Thiên L, sinh ngày 17/02/2012, ngoài ra không có con chung nào khác. Cuộc sống hôn nhân của chị T và anh S phát sinh nhiều mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2019 và đã thuận tình ly hôn theo quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 156/2022/QĐST-HNGĐ, ngày19/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Năm 2019 chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng có quan hệ tình cảm và đã sống chung với nhau như vợ chồng. Ngày 15/3/2020, chị Đặng Thị T sinh cháu Đặng Thái Minh P tại bệnh viện đa khoa thành phố V, tỉnh Nghệ An. Theo thừa nhận của chị Đặng Thị T và anh C - P1 thì cháu Đặng Thái Minh P là con chung của chị T và anh C – Pengcheng. Tuy nhiên, tại thời điểm này chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đang là vợ chồng hợp pháp. Vì vậy, cháu Đặng Thái Minh P được khai sinh là con đẻ của anh Đặng Duy D và Nguyễn Thị H. Tòa án đã triệu tập chị Nguyễn Thị H để làm rõ sự việc nhưng chị H không có mặt. Anh Đặng Duy D thừa nhận vợ chồng anh được chị T nhờ đứng tên cha, mẹ trong khai sinh của cháu Đặng Thái Minh P và anh hoàn toàn thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn. Theo Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ2201594 ngày 08/5/2023 của Hội đồng khoa học Công ty Cổ phần D1 kết luận: Anh C - P1 và cháu Đặng Thái Minh P có quan hệ huyết thống C1 – Con; Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ2201597 ngày 08/5/2023 của Hội đồng khoa học Công ty Cổ phần D1 kết luận: Chị Đặng Thị T và cháu Đặng Thái Minh P có quan hệ huyết thống Mẹ - Con. Từ những phân tích trên, đủ cơ sở khẳng định cháu Đặng Thái Minh P, sinh ngày 15/3/2020 (Trích lục khai sinh số 37/TLKS-BS ngày 14/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N) là con đẻ của chị Đặng Thị T và anh C - Pengcheng). [3] Về án phí: Chị chị Đặng Thị T và anh C - P1 không phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 88, 89, 101, 102, 123, 128 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; các Điều 28, 37, 39, 228, 271, 273, khoản 2 Điều 479, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, anh C -Pengcheng: Xác định: Anh C - Pengcheng, sinh ngày: 20/2/1991. Hộ chiếu số ED 9516480; địa chỉ: Thôn H, đường P, thành phố T, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc; chị Đặng Thị T, sinh ngày: 12/2/1993 nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx là cha, mẹ đẻ của cháu Đặng Thái Minh P, sinh ngày: 15/3/2020, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh Anh C - P1 và chị Đặng Thị T thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con theo quy định của pháp luật 2. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho anh C - P1 và chị Đặng Thị T. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Đặng Thị T, chị Nguyễn Thị H, anh C - Pengcheng có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày; anh Đặng Duy D có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật). Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật. Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Cỡ chữ