- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D ly hôn Lê Xuân K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Lê Xuân K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2023. V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/6/2023 về việc tranh chấp: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/8/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1996, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Lê Xuân K, sinh năm 1991, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
3. Người làm chứng: Ông Lê Xuân Q, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968 - địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị D trình bày: Chị và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào ngày 13/11/2015. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nết; từ tháng 4/2023 hai bên sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, việc ai người đó làm. Nay, chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D đề nghị được ly hôn anh K.
Về con chung: Chị và anh K có hai con là Lê T. H, sinh ngày 01/3/2016 và Lê X. T, sinh ngày 24/8/2017, hiện tại chị D nuôi dưỡng cháu T, còn cháu H do anh K nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị D nhận nuôi cháu T, còn cháu H để anh K nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản, nợ, công sức: Chị D xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản, không nợ tài sản của ai, không cho ai vay tài sản, không có công sức đóng góp vào khối tài sản của gia đình hai bên. Khi ly hôn, chị D không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh K không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị ông Quân, bà Chúc (bố mẹ của đương sự) xác định: Chị D, anh K là vợ chồng, khi còn chung sống có phát sinh mâu thuẫn, đã được gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không thành, hiện sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Nay các bên đương sự ly hôn, ông Quân, bà Chúc đề nghị giải quyết theo pháp luật. Nếu các bên đương sự ly hôn, ông Quân, bà Chúc đề nghị Toà án giao cháu T cho chị D nuôi dưỡng; giao cháu H cho anh K nuôi dưỡng. Ông Quân, bà Chúc xác định đối với các văn bản tố tụng của Tòa án đã giao, thông báo cho anh K.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng (trừ anh Tùng) đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xử, chị D ly hôn anh K; giao cháu T cho chị D nuôi dưỡng; giáo cháu H cho anh K nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau. Chị D phải chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX, nhận định.
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Xuân K được Tòa án triệu tập hợp lệ, hợp pháp nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do; chị Nguyễn Thị D đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.
Về hôn nhân: Chị D, anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ngày 13/11/2015, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đương sự phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nết. Do tình cảm không còn, nên chị D, anh K đã sống ly thân và không còn quan tâm tới nhau, việc ai người đó làm. Xác minh tại chính quyền địa phương, người thân trong gia đình của đương sự, đều xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa các bên đương sự đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án, chị D, gia đình của đương sự đã thông báo cho anh K biết, nhưng anh K không khai báo, từ chối và không tham gia phiên hòa giải, điều này chứng tỏ anh K không tha thiết và mong muốn tìm kiếm biện pháp để cải thiện tình trạng hôn nhân; trong khi đó chị D cương quyết xin ly hôn. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa các bên đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị D, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử chị D được ly hôn anh K.
. Về con chung: Xác định chị D, anh K có hai con chung là Lê T. H, sinh ngày 01/3/2016 và Lê X. T, sinh ngày 24/8/2017. Khi ly hôn, đương sự có quan điểm, chị D nuôi dưỡng cháu T; anh K nuôi dưỡng cháu H.
Xem xét việc nuôi dưỡng con chung của đương sự, HĐXX thấy rằng: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải xuất phát từ lợi ích về mọi mặt, quyền lợi và nguyện vọng của các con chưa thành niên, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên đương sự. Xét cháu H hiện đang do anh K nuôi dưỡng, đã đủ 7 tuổi và có nguyện vọng ở với anh K; còn cháu T chưa đủ 7 tuổi, hiện đang do chị D nuôi dưỡng. Vì vậy, có căn cứ xem xét giao cháu T cho chị D nuôi dưỡng, còn cháu H giao anh K nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật, tránh xáo trộn về tâm lý, nơi ở, việc học tập, vui chơi của các cháu H, Thưởng, đồng thời đáp ứng được nguyện vọng, sự mong mỏi của người thân trong gia đình của hai bên đương sự, phù hợp với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do mỗi bên nuôi dưỡng một con chung, nên hai bên đương sự không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, như theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản, nợ, công sức: Chị D không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và các Điều 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Lê Xuân K.
- Về con chung: Giao con Lê X. T, sinh ngày 24/8/2017 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con Lê T. H, sinh ngày 01/3/2016 cho anh Lê Xuân K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Thời điểm nuôi dưỡng các con chung của đương sự tính từ tháng 9/2023 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Các bên đương sự không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003589 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - UBND xã T, huyện Thanh Hà; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu Toà án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |