vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ".

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa Nguyễn Thị X và anh Trần Đắc T. Về con chung: giao cháu Trần Đắc Tr, sinh ngày 28/12/2020 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị X không yêu cầu anh Trần Đắc T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn; tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ".
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-3-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Tài;

2. Bà Nguyễn Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia và đình thụ lý số: 238/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh N.

- Bị đơn: anh Trần Đắc T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn T, xã L, huyện S, tỉnh N.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2022, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Trần Đắc T tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 15/01/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nhiều lần anh T đánh đập chị, có những lời lẽ chửi bới, xúc phạm mẹ và những người thân bên gia đình chị. Nay chị thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Đắc Tr, sinh ngày 28/12/2020. Hiện nay chị làm công nhân cho Công ty TNHH G với mức lương trung bình mỗi tháng từ 4.000.000 đồng - 6.000.000 đồng. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/12/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn – anh Trần Đắc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh thống nhất như lời trình bày của chị Nguyễn Thị X về thời gian, điều kiện và nơi đăng ký kết hôn. Từ khi kết hôn đến nay anh vẫn chăm lo cho gia đình đầy đủ, chị X ở nhà không làm bất cứ việc gì ngoài việc chăm con. Anh thừa nhận đôi lúc có đánh chị X do quá bực tức vì chị X có những lời lẽ hỗn với mẹ chồng. Vì vợ con anh đã chấp nhận không sống chung cùng mẹ mà thuê trọ ở riêng, thay đổi công việc với mức lương thấp hơn nhưng không hiểu lý do tại sao chị X vẫn xin ly hôn. Nay anh thấy vẫn còn thương yêu vợ con nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái trưởng thành.

Về con chung: có 01 con chung tên là Trần Đắc Tr, sinh ngày 28/12/2020. Hiện nay anh làm công nhân cho Công ty Đ với mức lương 8.000.000 đồng/tháng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: anh T có nơi cư trú tại thôn T, xã L, huyện S, tỉnh N. Chị X xin ly hôn với anh T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị X và anh T tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 15/01/2020 nên là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị X, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi nhau, nhiều lần anh T đánh đập chị, có những lời lẽ chửi bới, xúc phạm mẹ và những người thân bên gia đình chị. Anh T cho rằng anh không rõ nguyên nhân dẫn đến việc chị X xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị X đều cương quyết xin ly hôn dù anh T mong muốn đoàn tụ tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị X, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung:

Chị X và anh T có 01 con chung tên là Trần Đắc Tr, sinh ngày 28/12/2020. Các đương sự đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con và có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi để nuôi con. Chăm sóc và giáo dục con là quyền và trách nhiệm của cả cha lẫn mẹ nhưng xét thấy cháu Tr dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ sẽ tốt hơn cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của cháu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Tr cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

. Về án phí: chị X phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 110 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ".

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa Nguyễn Thị X và anh Trần Đắc T.

2. Về con chung: giao cháu Trần Đắc Tr, sinh ngày 28/12/2020 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị X không yêu cầu anh Trần Đắc T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Nguyễn Thị X phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị X đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004906 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/03/2023).

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ