vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

đình năm 2014; số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Dương Thị H tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” với Anh Nguyễn Thái Ph"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 02 - 2023
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình
- Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thái Quân

2. Ông Nguyễn Đình Phùng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

391/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022, về tranh chấp “Hôn nhân

gia đình - Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 270/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: ấp Quảng M, xã Phi M (nay là thị trấn V), huyện Lạng G, tỉnh

Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Quách

Thanh Ph – Văn phòng luật sư Quách Ph thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang.

Địa chỉ: Khóm Th 2, thị trấn Phú Mỹ huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thái Ph, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: tổ 2, ấp Hậu Gi2, xã Tân H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Anh Ph có mặt, chị H và anh Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 15/3/2021 bản tự khai,biên bản hòa

giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày:

Hôn nhân của chị và anh Ph qua tìm hiểu, được sự đồng ý của cha mẹ có

tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 102, ngày 03/10/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng nhau đi làm ăn tại Thành phố Hồ Chí Minh, chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Ph bỏ đi, không còn quan tâm chăm sóc vợ con, chính thức ly thân từ năm 2011 đến nay. Tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thái Ph.

Về con chung: chị và anh Ph có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Nh

sinh ngày 12/3/2007 và Nguyễn Thái Bình D, sinh ngày 18/5/2009, hiện do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Nguyễn Thái Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn

đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về hôn nhân cho chị H được ly hôn với anh Pháp. Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Nh sinh ngày 12/3/2007 và Nguyễn Thái Bình D, sinh ngày 18/5/2009, đề nghị cho chị Hạnh được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải

quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị H và anh Ph được xác lập trên cơ sở tự

tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được và chị H yêu cầu ly hôn anh Ph nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Nh sinh ngày 12/3/2007 và Nguyễn Thái Bình D, sinh ngày 18/5/2009, hiện do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng; nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết ly hôn với anh Ph và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp

luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo

quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Thái Ph là bị đơn có nơi cư trú tại

ấp Hậu Giang 2, xã Tân Hoà, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a

khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang.

Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Ph đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự.

Về nội dung: chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ph. Xét

chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện,

hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2007 trên cơ sở tự tìm hiểu, và chung

sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc

sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng

quan điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ năm 2011 đến nay, không hàn gắn

được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh chị mỗi

người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không

còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do

đó, chị Hạnh yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều

56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: anh, chị có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Nh

sinh ngày 12/3/2007 và Nguyễn Thái Bình D, sinh ngày 18/5/2009, hiện do chị

H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung,

không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng.

Xét, từ khi ly thân đến nay 02 cháu Nh và D do chị H trực tiếp chăm sóc,

giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, căn cứ quy định

tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao 02 cháu cho chị H tiếp

tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập

được, anh Ph không phải cấp dưỡng cho con. Chị H phải tạo mọi điều kiện thuận

lợi khi anh Ph đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được

quyền cản trở.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để

cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm

nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng,

chị H không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc

thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh Pháp có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản

án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị H và anh Ph phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra

xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh Ph

không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia

đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị H.

Về hôn nhân: Chị Dương Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thái Ph.

Giấy chứng nhận kết hôn số 102 quyển 01/2007, ngày 03/10/2007 của Ủy

ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị Hạnh và anh Pháp không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi

dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết Nh sinh ngày 12/3/2007 và Nguyễn Thái Bình D, sinh ngày 18/5/2009 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Ph không phải cấp dưỡng cho con.

Chị H phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Ph đến thăm nom, chăm

sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là

300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005697 ngày 01/11/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh Ph không phải chịu án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

được tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành

án dân sự./.

Cỡ chữ