vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho Trương Thị Hồng Á được ly hôn anh Phạm Văn G.

Về con chung: Giao cháu Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên, anh Giáp không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Phạm Văn G có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Hồng Ánh - Phạm Văn Giáp"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho Trương Thị Hồng Á được ly hôn anh Phạm Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƢỚC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-4-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Hùng

2. Ông Trương Cao Quý

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân-Thư ký Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2022/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng Á, sinh năm: 1996

Trú tại: Phố 2 Lâm Xa, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn G, sinh năm: 1985

Trú tại: Phố 2 Lâm Xa, thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 29/11/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Trương Thị Hồng Á trình bày: Chị và anh G tìm hiểu trong khoảng 01 năm, đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên tổ chức cưới theo phong tục tập quán và đi đăng ký kết hôn ngày 19/7/2016 tại UBND xã Phú Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân hạnh phúc, nhưng hai năm gần đây mâu thuẫn nảy sinh nguyên nhân do anh Giáp có tình cảm với người phụ nữ khác vì vậy vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, tranh cãi, đôi khi còn có bạo lực gia đình. Hiện nay chị không còn tỉnh cảm với anh Giáp, vợ chồng gặp nhau chỉ để thăm và chăm lo cho con chung. Từ khi chị yêu cầu ly hôn gia đình hai bên cũng đã hòa giải, hàn gắn, khuyên chị vì con mà đoàn tụ. Tuy nhiên chị cũng đã nhiều lần tha thứ cho anh Giáp nhưng anh không thay đổi nên chị không đồng ý đoàn tụ. Nay chị không còn tình cảm với anh Giáp, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bá Thước giải quyết cho chị được ly hôn anh Giáp.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Giáp cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 24/03/2023, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa anh Giáp trình bày: Anh và chị Ánh tiến tới hôn nhân đúng như chị Ánh trình bày. Quá trình chung sống gần đây do có hiểu nhầm nên chị Ánh nghi ngờ anh ngoại tình, việc này chưa bắt được trai trên gái dưới và cũng đã được các bên liên quan làm rõ và thông cảm cho nhau. Anh cũng đã nhận lỗi, cố gắng khuyên nhủ và nhờ người thân động viên chị Ánh tha thứ để vợ chồng đoàn tụ. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị Ánh, không muốn con bị chia rẽ vì vậy anh không đồng ý ly hôn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái.

- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018. Tại phiên tòa anh Giáp nhất trí giao con cho chị Ánh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung là tùy tâm, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Ánh được ly hôn anh Giáp. Về con cái: Giao cháu Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018 cho chị Ánh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, anh Giáp không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Ánh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Á và anh G đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, ®¨ng ký kÕt h«n ngày 19/7/2016 tại UBND xã Phú Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS. Nguyên nhân mâu thuẫn do quá trình chung sống chị Ánh nghi ngờ anh Giáp có tình cảm với người khác khiến vợ chồng tranh cãi, mâu thuẫn, đôi khi còn xảy ra bạo lực gia đình, chị Ánh không còn tình cảm với anh Giáp và đã ly thân nhau được 02 tháng nay. Việc này là phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, m©u thuÉn vî chång ®· ®Õn møc trÇm träng, đời sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. V× vËy, cần c¨n cø ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh xö cho chị Ánh được ly hôn anh Giáp để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.

Về con chung: Chị Á và anh G có 01 con chung Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018. Hiện nay cháu Tùng đang ở cùng chị Ánh và ông bà ngoại, ly hôn cả chị Ánh và anh Giáp đều có nguyện vọng giao con chung cho chị Ánh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Giáp không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét hoàn cảnh thực tế cháu Tùng còn nhỏ, từ bé đến nay cháu ở với chị Ánh và ông bà ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự sáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nghĩ nên, chấp nhận yêu cầu của chị Ánh và anh Giáp, giao cháu Tùng cho chị Ánh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, anh Giáp không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và các quy định của pháp luật.

Về tài sản: Chị Á và anh G không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Á phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho Trương Thị Hồng Á được ly hôn anh Phạm Văn G.

Về con chung: Giao cháu Phạm Mạnh Tùng, sinh ngày 12/01/2018 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên, anh Giáp không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Phạm Văn G có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm.

Về án phí: Chị Trương Thị Hồng Á phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên lai số: AA/2022/0001963 ngày 23/11/2022. Chị Ánh đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Á, anh G. Chị Á, anh Gi có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ