- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng thị Phương Th ly hôn Phạm Huy H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Ngh…
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Định.
Bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 354/2022/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐ-ST ngày 02 tháng 02 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Phương Th, sinh năm 1996
Địa chỉ: Xóm 14, xã HL, thành phố V, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Huy H, sinh năm 1997
Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Đội 4, thôn BT, xã NCh, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Phạm Huy C, sinh năm 1968,
Địa chỉ: Đội 4, thôn BT, xã NCh, huyện NS, tỉnh Hải Dương (đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị Phương Th trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Phạm Huy H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NCh, huyện NS, tỉnh Hải Dương vào ngày 12/12/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có sự tin tưởng vào nhau. Đầu năm 2019, do mâu thuẫn nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân, cắt đứt liên lạc kể từ đó đến nay. Trong trong thời gian chị về ngoại ở, anh H đã sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động, không trao đổi gì với chị. Nhận thấy vợ chồng xa cách nhau đã lâu, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Phạm Hoàng An Nh, sinh ngày 08/9/2018, hiện nay cháu Nh đang ở cùng chị. Chị đang làm nhân viên tại Công ty TNHH PTr, thu nhập trung bình khoảng 20 triệu đồng/tháng. Để ổn định cuộc sống cũng như học tập của con chung, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, do chị Th không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh H, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh H. Ông Phạm Huy C là bố đẻ anh H cung cấp: Thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, con chung như chị Th trình bày là đúng. Anh H hiện làm việc và sinh sống tại Hàn Quốc nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh H nên không cung cấp được cho Tòa án. Tuy nhiên, anh H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh H ông đã nhận và thông báo cho anh H biết. Anh H có trao đổi lại với ông là anh H nhất trí ly hôn với chị Th và để chị Th tiếp tục nuôi con, anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị Th. Vợ chồng anh H, chị Th không có tài sản chung, không có nợ chung, không có công sức đóng góp gì với gia đình hai bên nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Hoàng Thị Phương Th được ly hôn anh Phạm Huy H; Giao con chung là Phạm Hoàng An Nh, sinh ngày 08/9/2018 cho chị Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con; Chị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Chị Hoàng Thị Phương Th có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Huy H. Anh H hiện đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Th không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị Th và gia đình anh H cung cấp địa chỉ, nhưng chị Th và gia đình anh H đều không cung cấp được. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, ông C đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Th, anh H, ông C.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Phương Th và anh Phạm Huy H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NCh, huyện NS, tỉnh Hải Dương vào ngày 12/12/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Thông qua gia đình, anh H có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị Th. Xét thấy thực tế chị Th và anh H không chung sống cùng nhau từ nhiều năm và không còn quan tâm đến nhau, mâu thuẫn của chị Th và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Th xin ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân & Gia đình nên được chấp nhận.
. Về quan hệ con chung: Chị Th và anh H có một con chung là Phạm Hoàng An Nh, sinh ngày 08/9/2018, hiện nay đang ở cùng chị Th. Sau khi ly hôn chị Th và anh H đều thống nhất giao con cho chị Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thực tế, anh H đang ở nước ngoài, không có mặt tại Việt Nam nên việc giao con cho chị Th nuôi dưỡng là phù hợp. Do vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh H và chị Th giao con chung cho chị Th nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Anh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình.
. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Hoàng Thị Phương Th được ly hôn anh Phạm Huy H.
[2]. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Phương Th tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Phạm Hoàng An Nh, sinh ngày 08/9/2018, thời gian từ tháng 02/2023 đến khi con chung thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Phương Th không yêu cầu anh Phạm Huy H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị.
Anh Phạm Huy H được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[3]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Phương Th phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002382 ngày 14/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (Chị Th đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí).
[4]. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Phương Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Anh Phạm Huy H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã NCh, huyện NS, tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |