vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Mạnh C.

Giao cho anh Trần Mạnh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh T (giới tính: Nam), sinh ngày 16-7-2018. Buộc chị Trần Thị Thanh M giao cháu Trần Anh T cho anh Trần Mạnh C để anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Mạnh C - Trần Thị Thanh M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Mạnh C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TPNĐ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-02-2023
Về tranh chấp “Thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Quang Chung

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thủy - Thư ký Toà án nhân dân TPNĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 457/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10-01-2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1984; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số nhà 113 đường Nguyễn Văn T, phường Năng T, TPNĐ, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa,

- Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh M, sinh năm 1986; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số nhà 6 đường Vị X, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 16 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Trần Mạnh C trình bày:

Anh và chị Trần Thị Thanh M kết hôn trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vị X, TPNĐ năm 2017 và có 01 con chung là cháu Trần Anh T (giới tính: Nam), sinh ngày 16-7-2018. Sau khi kết hôn và chung sống với nhau, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã được giải quyết ly hôn tại Tòa án.

Theo bản án số 657/2020/HNGĐ-ST ngày 25-12-2020 của Tòa án nhân dân TPNĐ thì chị Trần Thị Thanh M trực tiếp nuôi cháu Trần Anh T, anh Trần Mạnh C cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng/tháng) kể từ tháng 12/2020 cho đến khi cháu Trần Anh T đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về việc nuôi con sau ly hôn: Từ sau khi ly hôn cho đến nay, anh Trần Mạnh C vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thăm nom và cấp dưỡng nuôi con theo quyết định của bản án và chị M cũng tạo điều kiện cho anh thăm nom con. Tuy nhiên từ cuối tháng 6 năm 2022 đến nay chị Trần Thị Thanh M đã cố tình giấu địa chỉ và cắt đứt mọi liên lạc với anh khiến cho anh không thể thăm nom con được nhưng anh vẫn thực hiện cấp dưỡng nuôi con, hàng tháng anh vẫn chuyển tiền vào tài khoản của chị M để cấp dưỡng nuôi con. Đã nhiều lần anh đến nhà bố mẹ đẻ của chị M - nơi chị M đăng ký thường trú và cư trú nhưng không gặp chị M và con của anh. Bố mẹ đẻ của chị M cũng không cho anh biết hiện chị M và cháu T đang ở đâu. Anh đã đến cơ quan nơi chị M công tác thì được biết chị M đã xin nghỉ việc do có nhiều người đến cơ quan của chị M để đòi nợ. Anh đến trường học nơi con anh học thì được biết chị M đã không còn cho con đi học nữa. Mặc dù anh và chị M đã ly hôn nhưng vẫn có nhiều cá nhân và tổ chức đến nhà anh đòi nợ chị M. Việc chị M cố tình giấu địa chỉ và không cho anh thăm nom con là vi phạm quyền cha con của anh và gây cản trở việc thăm nom con chung. Anh xét thấy nay chị M không còn đủ điều kiện đề nuôi con do chị M không có công việc ổn định và không có thu nhập, không có nơi ở ổn định. Hiện nay trường Điều dưỡng tỉnh Nam Định đã chấm dứt hợp đồng lao động với chị M. Nếu chị M tiếp tục nuôi con thì cháu T sẽ không có điều kiện phát triển tốt về mọi mặt. Hiện nay anh có đầy đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi con và cho con có điều kiện phát triển tốt: Anh có công việc ổn định, có thu nhập, có nơi ở ổn định và có điều kiện chăm sóc con. Để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và sinh hoạt, học tập và phát triển của con, anh đề nghị Tòa án giao cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Anh T và không đề nghị chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh tự nguyện nộp toàn bộ.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân TPNĐ đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Trần Thị Thanh M nhưng chị M không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

3. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 25-11-2022, đại diện tổ dân phố nơi chị Trần Thị Thanh M cư trú cung cấp: Chị Trần Thị Thanh M và cháu Trần Anh T đăng ký thường trú và cư trú tại địa chỉ Số nhà 6 đường Vị X, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Thời điểm hiện tại chị Trần Thị Thanh M và cháu Trần Anh T không có mặt tại địa chỉ trên.

4. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 28-11-2022, đại diện trường Đại hoc điều dưỡng Nam Định - nơi công tác của chị Trần Thị Thanh M cung cấp: Chị Trần Thị Thanh M là viên chức của Nhà trường và là Giảng viên của Trung tâm thực hành tiền lâm sàng của trường. Ngày 01-8-2022 chị M có đơn xin nghỉ việc không lương, thời hạn từ ngày 01-8-2022 đến ngày 31-01-2023 để giải quyết việc gia đình. Tại Công văn số 103669/2022/XMCT-VPB ngày 06-10-2022 Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng có gửi Công văn xin nhà trường xác nhận tình trạng công tác của chị M.

5. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 25-11-2022, công an phường Vị X, TPNĐ.cung cấp: Chị Trần Thị Thanh M và cháu Trần Anh T đăng ký thường trú và cư trú tại địa chỉ Số nhà 6 đường Vị X, phường Vị X, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Qua tra cứu dữ liệu dân cư chị Trần Thị Thanh M không thông báo địa chỉ cư trú mới nào khác tại Công an phường Vị X, TPNĐ.

6. Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 25-11-2022, chủ cơ sở mầm non Thiên Thần Nhỏ cung cấp: Cháu Trần Anh T có học tại cơ sở mầm non Thiên Thần Nhỏ khoảng từ tháng 5-2022 đến hết tháng 6-2022. Hiện tại mẹ của cháu Trần Anh T là chị Trần Thị Thanh M đã cho cháu nghỉ học.

7. Tại Giấy xác nhận thông tin ngày 03-01-2023 của Công ty tài chính MTV Cộng đồng xác nhận: Chị Trần Thị Thanh M đang có khoản nợ quá hạn 172 ngày, tổng số tiền nợ gốc và lãi là 32.776.689 đồng (ba mươi hai triệu bẩy trăm bẩy mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng).

8. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ tham gia phiên tòa có quan điểm:

- Về tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, anh Trần Mạnh C đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chị Trần Thị Thanh M đã được tống đat hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.

- Về nội dung tranh chấp:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Mạnh C. Giao cho anh Trần Mạnh C trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh T, sinh ngày 16-7-2018. Chị Trần Thị Thanh M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thanh M phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Trần Mạnh C yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và giao cho anh được nuôi con chung là cháu Trần Anh T. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

1.2. Về sự vắng mặt của đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn là anh Trần Mạnh C có mặt tại phiên tòa. Bị đơn là chị Trần Thị Thanh M vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xử vắng mặt chị Trần Thị Thanh M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp trong vụ án:

2.1. Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Anh Trần Mạnh C và chị Trần Thị Thanh M đã ly hôn theo quyết định của bản án số 657/2020/HNGĐ-ST ngày 25-12-2020 của Tòa án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định. Theo quyết định của bản án chị Trần Thị Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh T, sinh ngày 16-7-2018, anh Trần Mạnh C cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng/tháng) kể từ tháng 12/2020 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Trần Thị Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Anh T, anh Trần Mạnh C vẫn thực hiện nghĩa thăm nom, cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên từ tháng 6/2022 đến nay chị Trần Thị Thanh M đã vi phạm quyền và nghĩa vụ đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Chị Trần Thị Thanh M không cho anh Trần Mạnh C biết nơi cư trú của cháu Trần Anh T khiến cho anh C không thể thăm nom được con mặc dù hàng tháng anh vẫn cấp dưỡng nuôi con theo quyết định của bản án. Đại diện tổ dân phố và Công an phường Vị X, TPNĐ - nơi chị Trần Thị Thanh M và cháu Trần Anh T đăng ký thường trú cung cấp: Từ tháng 8-2022 đến nay chị Trần Thị Thanh M và cháu Trần Anh T không còn cư trú tại nhà của bố mẹ đẻ chị M nữa và cũng không thông báo địa chỉ mới.

Chị Trần Thị Thanh M không còn đủ điểu kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Căn cứ vào tài liệu đã thu thập thể hiện: Tại Quyết định số 80/QĐ-DDN ngày 13-01-2023 Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã quyết định chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với chị Trần Thị Thanh M; Tại Giấy xác nhận thông tin ngày 03-01-2023 của Công ty tài chính MTV Cộng đồng xác nhận: Chị Trần Thị Thanh M đang có khoản nợ quá hạn 172 ngày, tổng số tiền nợ gốc và lãi là 32.776.689 đồng (ba mươi hai triệu bẩy trăm bẩy mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng); đại diện cơ sở mầm non Thiên Thần Nhỏ xác nhận chị M đã cho cháu Trần Anh T nghỉ học.

Trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình chị Trần Thị Thanh M từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án.

Xét thấy hiện tại anh Trần Mạnh C có đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung: Anh có nơi ở ổn định: Anh có nhà riêng tại địa chỉ: Số nhà 113 đường Nguyễn Văn T, phường Năng T, TPNĐ, tỉnh Nam Định; có công việc và thu nhập ổn định: Hiện anh đang làm việc tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đại Tiến Thành, tiền lương 15.000.000 đồng/tháng (mười lăm triệu đồng/tháng).

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh Trần Mạnh C: Giao cho anh Trần Mạnh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Trần Anh T, sinh ngày 16-7-2018. Vì chị Trần Thị Thanh M đang trực tiếp nuôi cháu Trần Anh T nên buộc chị Trần Thị Thanh M giao cháu Trần Anh T để anh Trần Mạnh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu T.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn:

Xét thấy anh Trần Mạnh C không yêu cầu chị Trần Thị Thanh M phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận.

Về án phí Dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của anh Trần Mạnh C được chấp nhận nên chị Trần Thị Thanh M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên anh Trần Mạnh C tự nguyện nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp sẽ được khấu trừ vào án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83; điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Mạnh C.

2. Giao cho anh Trần Mạnh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh T (giới tính: Nam), sinh ngày 16-7-2018.

Buộc chị Trần Thị Thanh M giao cháu Trần Anh T cho anh Trần Mạnh C để anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Chị Trần Thị Thanh M không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.

5. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Mạnh C nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Trần Mạnh C đã nộp tại biên lai số 0005649 ngày 16-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TPNĐ.

6. Anh Trần Mạnh C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị Thanh M quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Anh Trần Mạnh C và chị Trần Thị Thanh M có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ