- Tranh chấp gì? án hình sự — "N V N phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: N V N phạm tội "Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HSST Ngày 20 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hồng Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Bền
2. Bà Trần Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc là Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
N V N, sinh năm 1994 tại huyện G R, tỉnh K G. Nơi cư trú: Ấp T T, xã T H, huyện G R, tỉnh K G; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N V Â, sinh năm 1955 và bà T T T, sinh năm 1956; có vợ là P C Y, sinh năm 1993; có 02 người con là N P N K, sinh năm 2015 và N P N H, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 24/01/2022 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Bà L K P, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Khu phố N Ô, thị trấn G R, huyện G Ri, tỉnh K G (Có đơn đề nghị vắng mặt).
- Bà P T T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh K G (Có đơn đề nghị vắng mặt).
Người làm chứng: Bà L T C C, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Khu phố 8, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh K G (Có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 24 tháng 01 năm 2022, bà L K P sau khi đi tập thể dục buổi sáng xong, bà đạp xe đạp đi về đến khu vực ngang vựa gạo M P trên đoạn đường M T H H thuộc khu phố Nội Ô, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh K G lúc này khoảng 06 giờ thì bị cáo điều khiển xe mô tô biển đăng ký số 66K9 – 2151 áp sát bà P đồng thời giật chiếc túi xách bên trong có để 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 và 1.828.000 đồng đang treo trên xe đạp, nhưng do túi xách có dây đeo quấn vào ghế ngồi của trẻ em trên xe nên bị cáo không lấy được mà làm ngã xe đạp và bà P té ngã xuống lộ, N kéo xe đạp cùng bà P đi một đoạn thì bị ngã xe, lúc này bà P hô hoán nên mọi người gần đó vây bắt được N và phương tiện giao cơ quan Công an xử lý.
Ngoài lần phạm tội trên, trước đó vào khoảng 09 giờ ngày 21 tháng 01 năm 2022, bị cáo đến vựa cá Ú L của bà P T T thuộc khu phố 8, thị trấn G R, huyện G R, tỉnh K G giả vờ vào mua rắn của bà T đang đứng bán. Lợi dụng lúc bà T đang cân rắn, bị cáo từ phía sau giật lấy túi xách của bà T đang đeo trên vai bên trong có 150.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 02 (hai) sợi dây chuyển vàng 24K có trọng lượng mỗi sợi 10 chỉ, 01 (một) sợi dây chuyền vùng 18k có trọng lượng 08 chỉ, 01 (một) lắc tay vàng 18k có trọng lượng 05 chỉ và 02 (hai) nhẫn vàng 18k có trọng lượng 07 chỉ. Lúc này bà T la lên “ăn cướp, ăn cướp” thì bị cáo lên xe mô tô bỏ chạy, không lấy được túi sách. Vụ việc sau đó bà T đến cơ quan công an trình báo.
Tại Bản kết luận định giữ tài sản số 04/TDG-CT/HĐĐG ngày 26/01/2022 của hội đồng định giá huyện G R kết luận:
- 01 (một) túi xách màu kem, vải túi sách màu cà phê sữa, gồm có 04 (bốn) ngăn, đã qua sử dụng.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
Tỷ lệ còn lại 40%
240.000 đồng x 40% = 96.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại Iphone 12, màu hồng, số máy MJNZ3LL/A, số sê ri GYKOT4K2FO, đã qua sử dụng;
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
Tỷ lệ còn lại 80%
20.500.000 đồng x 80% = 16.400.000 đồng.
Tổng cộng: 16.496.000 đồng (mười sáu triệu, bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11TĐG-CT/HĐĐG ngày 24/3/2022 của hội đồng định giá huyện G R kết luận:
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
5.239.000 đồng/ chỉ x 10 chỉ = 52.390.000 đồng.
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
5.239.000 đồng/ chỉ x 10 chỉ = 52.390.000 đồng.
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, có trọng lượng 08 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
3.885.000 đồng/ chỉ x 08 chỉ = 31.080.000 đồng.
- 01 (một) lắc đeo tay vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
3.885.000 đồng/ chỉ x 05 chỉ = 19.425.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 02 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
3.885.000 đồng/ chỉ x 02 chỉ = 7.770.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
3.885.000 đồng/ chỉ x 05 chỉ = 19.425.000 đồng.
- 01 (một) túi xách đã qua sử dụng.
Theo giá thị trường thời điểm hiện tại:
Tỷ lệ còn lại 50%
350.000 đồng x 50% = 175.000 đồng.
Tổng cộng: 182.655.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/TĐG-CT/HĐĐG ngày 19/4/2022 của hội đồng định giá huyện G R kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO reno6Pro 5G, màu xanh, đã qua sử dụng;
Theo giá thị trườngng thời điểm hiện tại:
Tỷ lệ còn lại 80%
12.990.000 đồng x 80% = 10.392.000 đồng (mười triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra bị can đã tỏ ra thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về vật chứng:
- 01 (một) túi xách màu kem, dãy túi sách màu cà phê sữa, gồm có 04 (bốn) ngăn, đã qua sử dụng;
- 01 (một) điện thoại Iphone 12, màu hồng, số máy MJN23LL/A, số sê ri: GYKOT4K2FQ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ;
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ;
- 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, có trọng lượng 08 chỉ;
- 01 (một) lắc đeo tay vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ;
- 01 (một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 02 chỉ;
- 01(một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ;
- 01 (một) túi xách đã qua sử dụng;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO reno6Pro 5G, màu xanh, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sanda, màu nho, biển dăng ký số 66K9 - 2151, số khung: VMEPCG 00221038654, số máy SD039246, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, trên mũ có chữ “nón sơn", không có kính chắn gió, đã qua sử dụng;
- 01 (một) nón lưỡi chai màu đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.
Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện G R áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy đồ vật là 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, trên mũ có chữ “nón sơn”, không có kính chắn gió, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lưỡi chai màu đen, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sanda, màu nho, biển đăng ký số 66K9 – 2151, số khung: VMEPCG 00221038654, số máy SD039246, đã qua sử dụng.
Ghi nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện G R đã trao trả cho bà L K P 01 (một) túi xách màu kem, dây túi xách màu cà phê sữa, gồm có 04 (bốn) ngăn, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại Iphone 12, màu hồng, số máy MJN23LL/A, số sê ri: GYKQT4K2FQ, đã qua sử dụng và số tiền 1.828.000 đồng;
Đã trao trả cho bà P T T: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ; 01(một) sợi dây chuyền vàng 24K, có trọng lượng 10 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18K, có trọng lượng 08 chỉ; 01 (một) lắc đeo tay vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ; 01 (một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 02 chỉ; 01 (một) nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 05 chỉ; 01 (một) túi xách đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO reno6Pro 5G, màu xanh, đã qua sử dụng và 150.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 18/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện G R đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội được quy định tại điểm g, n khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Từ khi khởi tố đến nay bị cáo tỏ rõ thành khẩn khai báo nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
* Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, n khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề nghị.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện G R áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật là 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, trên mũ có chữ “nón sơn”, không có kính chắn gió, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lưỡi chai màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sanda, màu nho, biển đăng ký số 66K9 - 2151, số khung: VMEPCG 00221038654, số máy SD039246, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của vị đại diện viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận về tội danh và khung hình phạt, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình và làm công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện G R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G R, Kiểm sát viên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
. Về hành vi của bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Sáng ngày 24 tháng 01 năm 2022, thấy bà L K P đạp xe đạp đi đến khu vực ngang vựa gạo M P trên đoạn đường M T H H lúc này khoảng 06 giờ thì bị cáo điều khiển xe mô tô biển đăng ký số 66K9 - 2151 áp sát bà P đồng thời giật chiếc túi xách bên trong có để 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 và 1.828.000 đồng đang treo trên xe đạp, nhưng do túi xách có dây đeo quấn vào ghế ngồi của trẻ em trên xe nên bị cáo không lấy được mà làm cả xe đạp và bà P tế ngã xuống lộ, bị cáo kéo xe đạp cùng bà P đi một đoạn thì bị ngã xe, lúc này bà P hô hoán nên mọi người gần đó vây bắt được bị cáo và phương tiện giao cơ quan Công an xử lý.
Ngoài lần phạm tội trên, trước đó vào khoảng 09 giờ ngày 21 tháng 01 năm 2022 bị cáo còn thừa nhận đến vựa cá Ú L của bà P T T, giả vờ vào mua rắn của bà T. Lợi dụng lúc bà T đang cân rắn, bị cáo từ phía sau giật lấy túi xách của bà T đang đeo trên vai bên trong có 150.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 02 (hai) sợi dây chuyền vàng 24K có trọng lượng mỗi sợi 10 chỉ, 01 (một) sợi dây chuyền vùng 18k có trọng lượng 08 chỉ, 01 (một) lắc tay vàng 18k có trọng lượng 05 chỉ và 02 (hai) nhẫn vàng 18k có trọng lượng 07 chỉ. Lúc này bà T la lên “ăn cướp, ăn cướp” thì bị cáo lên xe mô tô biển đăng ký số 66K9 - 2151 bỏ chạy, không lấy được túi sách do bà T. Vụ việc sau đó bà T đến cơ quan công an trình báo.
Lời nhận tội trên của bị cáo phù hợp với biên bản lấy lời khai, lời trình bày của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Về thời gian, địa điểm và giá trị tài sản chiếm đoạt.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, có đầy đủ sức khỏe, đáng lẽ ra bị cáo phải tích cực lao động để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng trái lại để có tiền phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo, liều lĩnh, xem thường pháp luật.
Để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bị cáo dùng xe mô tô chạy xe trên đường thấy có người có tài sản bị cáo nhanh chóng tiếp cận, chiếm đoạt tài sản nhanh chóng tẩu thoát, việc không chiếm đoạt được tài sản của bà P và bà T là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo thực hiện một cách táo bạo, liều lĩnh, rất nguy hiểm vì nếu bị cáo giật tài sản làm cho bị hại và xe bị ngã xuống đường rất dễ bị tổng thương hoặc có phương tiện giao thông khác có thể gây thương vong cho bị hại. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, xét thấy cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, để giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người được quy định tại điểm g, n khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Từ khi khởi tố đến nay bị cáo tỏ rõ thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét.
. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật là 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, trên mũ có chữ “nón sơn”, không có kính chắn gió, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lưỡi chai màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sanda, màu nho, biển đăng ký số 66K9 - 2151, số khung: VMEPCG 00221038654, số máy SD039246, đã qua sử dụng.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: N V N phạm tội "Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, n khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo N V N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt là ngày 24/01/2022.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đồ vật là 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, trên mũ có chữ “nón sơn”, không có kính chắn gió, đã qua sử dụng và 01 (một) nón lưỡi chai màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sanda, màu nho, biển đăng ký số 66K9 - 2151, số khung: VMEPCG 00221038654, số máy SD039246, đã qua sử dụng.
Vật chứng đang được lưu giữ tại Cơ quan Thi hành án huyện G R theo Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G R.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/7/2022. Bị hại bà L K P và bà P T T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
* Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Riềng; - Cơ quan THA hình sự huyện Giồng Riềng; - UBND xã, phường (tt) nơi cư trú của bị cáo; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Hồng Chinh |