vanban.org

Bản án 48/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Kơ Lơr Ya Ph phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Kơ Lơr Ya Ph 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Kơ Lơ Ya Ph phạm tội Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kơ Lơr Ya Ph phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HS-ST
Ngày: 17-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Khắc Chương

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 83/2022/TB-TA ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kơ Lơ Ya Ph, sinh năm 1987; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn Phú Cao, xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Chu Ru; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ya Gi, sinh năm 1959 (đã chết), con bà: Ma W, sinh năm 1956; gia đình có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1991; vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1979, con: có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt

* Bị hại:

- Ông Đỗ Th, sinh năm 1943.

Trú tại: Thôn Phú Cao, xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1976

Trú tại: Thôn Phú Cao, xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1979

Trú tại: Thôn Phú Cao, xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

* Người làm chứng:

- Ông Lê Quang H, sinh năm 1976

Trú tại: Thôn Đà An, xã Đ L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2008, Sau khi khai phá được khoảng 4 hecta rừng bị cáo Kơ Lơr Ya Ph bán cho ông Đỗ Th toàn bộ đất khai phá với giá 40.000.000đ đặt cọc trước 20.000.000đ, hẹn 01 tháng sau sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại. Khi bị cáo Ya Ph sang nhượng cho ông Đỗ Th có làm giấy sang nhượng, việc mua đất của bị cáo Ya Ph là do ông Đỗ Th và ông Đặng Văn Q cùng mua nhưng chỉ đứng tên ông Đỗ Th trong giấy sang nhượng đất nên sau khi mua đất ông Th và ông Q làm chung với nhau. Sau khi bán đất bị cáo Ya Ph đi làm xa không có ở nhà nên ông Đỗ Th đến gặp gia đình Ya Ph nói chỉ mua nửa đất mà Ya Ph bán cho ông với số tiền đặt cọc chứ không mua hết.

Đến năm 2014 Ya Phét đến gặp ông Đỗ Th để lấy 20.000.000đ tiền đất còn lại nhưng ông Th không đưa.

Từ năm 2015 đến năm 2018 ông Th và ông Q mang cây ca ri, Cà phê đến trồng trên đất đã mua. Đến khoảng tháng 05/2021 ông Thỉnh và ông Q trồng thêm cây cà phê, cây Mác ca trên phần đất mua của bị cáo Ya Ph.

Đến năm 2021 vợ chồng bị cáo Ya Ph mang 20.000.000đ đến trả để lấy lại diện tích đất đã bán nhưng ông Th không nhận.

Vào sáng ngày 23/7/2021 ông Lê Quang H, sinh năm 1976, HKTT: thôn Đà An, xã Đ L, đi ngang qua diện tích đất trên thấy ông Th, ông Q đang làm vườn vì nghĩ là đất của bị cáo Ya Ph nên ông Hợp gọi điện thoại cho Ya Ph và đến nhà đón vợ chồng bị cáo Ya Ph đến nơi ông Thỉnh, ông Q đang làm. Tại đây Ya Ph chửi ông Th, ông Q, lúc này Ya Ph thấy ông Q cầm quốc trên tay nên Ya Ph giật quốc của ông Q và dùng cuốc chặt cây cà phê, cà ri và nói vợ mình là bà H dùng tay nhổ khoảng 10 cây cà phê, mác ca nhỏ mới trồng tại nơi Ya Ph đang phá. Ông Q thấy vậy nên đến Công an xã T H trình báo.

Sau khi tiếp nhận tin báo Công an xã T H, phối hợp Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Trọng tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận số cây bị chặt.

Tại bản kết luận định giá số: 106/KL – HĐĐG ngày 20/8/2021của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 40 cây cà ri bốn năm tuổi, 05 cây cà phê loại Robusta 3 năm tuổi, 09 cây cà phê mít trồng năm 2021,11 cây mác ca trồng năm 2021 có giá 7.641.000đ.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 cái quốc cán làm bằng gỗ dài khoảng 120 cm, phần lưỡi quốc làm bằng kim loại, Công an huyện Đức Trọng ra quyết định xử lý vật chứng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Kơ Lơr Ya Ph về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Kơ Lơr Ya Ph từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Kơ Lơr Ya Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:

Vào sáng ngày 23/7/2021 sau khi nghe ông Lê Quang H thông báo là ông Th, ông Q đang làm vườn trên diện tích đất đang tranh chấp giữa bị cáo và ông Đỗ Th nên bị cáo Ya Ph cùng với vợ chạy đến nơi ông Th, ông Q đang làm. Tại đây bị cáo Ya Ph thấy ông Th, ông Q đang làm trên đất, lúc này bị cáo Ya Ph giật quốc của ông Q đang cầm trên tay sau đó dùng cuốc chặt cây cà phê, cà ri và nói vợ mình là bà H dùng tay nhổ khoảng 10 cây cà phê, mác ca nhỏ mới trồng tại nơi Ya Ph đang phá. Ông Q thấy vậy nên đến Công an xã T H trình báo. Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định bị cáo Ya Ph đã chặt phá của ông Th, ông Q 40 cây cà ri bốn năm tuổi, 05 cây cà phê loại Robusta 3 năm tuổi, 09 cây cà phê mít trồng năm 2021 và 11 cây mác ca trồng năm 2021.

Tại bản kết luận định giá số: 106/KL – HĐĐG ngày 20/8/2021của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 40 cây cà ri bốn năm tuổi, 05 cây cà phê loại Robusta 3 năm tuổi, 09 cây cà phê mít trồng năm 2021 và 11 cây mác ca trồng năm 2021 có giá 7.641.000đ.

Xét lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Kơ Lơr Ya Ph đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.

Xét về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự mình thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải tự chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Kơ Lơ Ya Ph và bị hại ông Đỗ Th, ông Đặng Văn Q đã tiến hành giao nhận bồi thường số tiền 7.641.000đ, ông Q, ông Tỉnh đã nhận đủ tiền và không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 cái quốc cán làm bằng gỗ dài khoảng 120 cm, phần lưỡi quốc làm bằng kim loại xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Trong vụ án này bà Bùi Thị H là vợ của bị cáo Kơ Lơr Ya Ph quá trình điều tra xác định bà H không có sự bàn bạc thống nhất tại nhà với bị cáo Kơ Lơr Ya Ph về hành vi hủy hoại tài sản nên không xem xét trong vụ án này. Cơ quan điều tra đã tách ra xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Kơ Lơr Ya Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Kơ Lơr Ya Ph phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Kơ Lơr Ya Ph 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy 01 cái quốc cán làm bằng gỗ dài khoảng 120 cm, phần lưỡi quốc làm bằng kim loại, bị hở một phần khoảng 01cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Kơ Lơr Ya Ph phải chịu án 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ