- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Q - Lãnh Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiêm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585; 587 và 589 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HS-ST Ngày 24/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doanh Thị Mây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Ẩy
Ông Thẩm Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuấn - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24/11/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Hoàng Văn Q, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1987.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm NĐ, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn N, sinh năm 1961 và con bà Tô Thị V, sinh năm 1963; Vợ: Đặng Bích T, sinh năm 1988; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2007.
Tiền án, Tiền sự, Nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2022 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Bị cáo Lãnh Văn Đ, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1981.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm TL, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lãnh Văn C, sinh năm 1945 (đã chết) và con bà Mông Thị P, sinh năm 1949; Vợ: Tô Thị T, sinh năm 1982; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 31/2018/HS-ST ngày 24/10/2018. Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng từ ngày 17 tháng 6 năm 2022 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Nguyên đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn TKT Cao Bằng; Địa chỉ: Tổ N, phường ĐT, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.
Người đại diện: Ông Nguyễn Thanh T - Chức vụ: Giám đốc, Công ty Trách nhiệm hữu hạn TKT Cao Bằng (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Hải Y, sinh năm 1991; Tạm trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn BL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Ông Lãnh Văn D, sinh năm 1974; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm NĐ, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/5/2022, ông Nguyễn Văn N sinh năm 1991, trú tại ĐT, HP, SD, Tuyên Quang là người được giao quản lý và thi công công trình chống quá tải Trạm biến áp Xuân Trường II đến Công an huyện Bảo Lạc trình báo việc bị mất cắp dây điện (loại cáp nhôm vặn xoắn, số hiệu SUNWON 0,6/1kv AL/XLPE:4x95). Số dây điện bị mất là khoảng hơn 200 mét, giá trị khoảng gần 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Số dây điện trên để tại ruộng lúa của gia đình ông Mông Văn K, sát đường Quốc lộ 4A thuộc địa phận xóm BC, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng.
Quá trình điều tra làm rõ: Vào khoảng 01 giờ ngày 26/4/2022, Lãnh Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại xóm TL, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng thấy dây điện không có người trông coi lợi dụng đêm tối, một mình Đ mang theo kìm từ nhà đến cắt lấy trộm một đoạn dây điện, sau đó cuộn thành vòng mang về nhà cất giấu rồi đi ngủ. Đến 09 giờ sáng cùng ngày, Đ dùng dao của gia đình cắt, chặt số dây điện trộm được thành từng đoạn ngắn và cho vào tải cất dưới sàn nhà. Đến buổi trưa cùng ngày Đ gọi điện thoại cho Hoàng Văn Q, sinh năm 1987 trú tại xóm NĐ, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng đén chơi. Khi Q đến nhà của Đ, hai người ngồi uống nước thì Đ nói: "Mai mày đi uống Methadone lấy cái này đem đi bán cho tao, tao chỉ lấy 200.000 đồng, số tiền còn lại mày cầm hết". Q hỏi Đ "Lấy cái gì đi bán?", Đ bảo "Lấy dây điện", Q hỏi "Lấy dây điện ở đâu?", Đ trả lời "Lấy trộm ở cạnh 799". Q biết Đ lấy trộm dây điện ở đoạn ruộng gần Đội sản xuất số 5 của Đoàn kinh tế Quốc phòng 799, Q hỏi "Anh để ở đâu?", Đ bảo "Để dưới chuồng" (tức là để dưới gầm sàn nhà) sau đó Đ và Q đi xuống gầm sàn nhà xem. Tại đây, Đ chỉ vào bao tải và nói "Ở kia", Q thấy vậy đi qua mở bao tải ra xem thì thấy dây điện đã bị cắt thành từng đoạn ngắn, dài khác nhau. Q đồng ý giúp Đ bán số dây điện đã trộm được. Sau đó Q ngồi uống nước một lúc thì đi về nhà.
Khoảng 01 giờ ngày 27/4/2022, Q một mình đến khu vực ruộng gần Trạm biến áp mà Đ chỉ cho Q chỗ Đ lấy trộm dây điện tối hôm trước, với mục đích để trộm dây điện. Q một mình dùng kìm đã chuẩn bị trước để cắt trộm dây điện thành từng đoạn ngắn rồi cho vào bao tải và đem về nhà. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, Q đem số dây điện trộm được đi xe máy biển kiểm soát 11F2-2382 (Q mượn từ trước với Lãnh Văn D, sinh năm 1974, trú tại xóm NĐ, xã XT) đến nhà Đ. Khi đến, Q gọi Đ và Đ lấy số dây điện đã trộm trước đó đem ra cho Q, Q xách lấy bao tải và mang lên xe máy rồi điều khiển đến thị trấn BL để bán. Khoảng 01 giờ sau, Q đi đến điểm thu mua sắt vụn của Đỗ Thị Hải Y, tạm trú tại Tổ dân phố N, thị trấn BL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng để bán số dây điện. Y mua số dây điện của Q theo giá sắt vụn là 23.000 đồng/01kg. Trong đó: phần của Q tự trộm có khối lượng là 07 (Bảy) kg bán được số tiền 160.000 đồng; phần của Đ tự trộm cho Q bán hộ có khối lượng 19 (Mười chín) kg, bán được số tiền 437.000 đồng. Sau khi bán được dây điện Q đi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc. Đến trưa cùng ngày, Q đến nhà của Đ và đưa cho Đ số tiền 200.000 đồng, bản thân Quân được 237.000 đồng từ việc giúp Đ bán dây điện.
Đến khoảng 21 giờ ngày 27/4/2022, Q rủ Đ tiếp tục đi lấy trộm số dây điện còn lại cũng tại địa điểm Q và Đ trộm trước đó, Đ đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/4/2022 lợi dụng đêm khuya, vắng người qua lại. Đ sử dụng điện thoại bàn phín nhãn hiệu Intel màu đỏ lắp sim số 0347289855 và 0877327509 của mình để soi đường đi trộm. Khi đến chỗ để cuộn dây điện, Q và Đ mỗi người đứng một bên và tiến hành tháo dây điện khỏi trụ gỗ bảo vệ, khi tháo được khoảng 03 đến 04 vòng thì dùng kìm cắt (do Q chuẩn bị sẵn), cả hai cùng thực hiện đến khi cắt trộm xong toàn bộ số dây điện. Sau đó, cả hai cùng nhau đem số dây điện để lên xe máy biển kiểm soát 11F2-2382 và Q điều khiển xe máy đến khu vực vắng người thuộc TT, xóm BC, xã XT, huyện BL để chặt ngắn số dây điện. Tại đây hai người thay nhau dùng dao chặt dây điện ra thành từng khúc nhỏ, dài ngắn khác nhau từ khoảng 30 cm đến 50 cm. Sau khi chặt ngắn số dây điện cả hai lại cùng cho dây điện vào bao tải đã chuẩn bị từ trước và để lên xe máy. Sau đó Q chở số dây điện đến thị trấn BL để bán, còn Đ đi về nhà ngủ. Q đến bán số dây điện này tại cửa hàng thu mua phế liệu của bà Đỗ Thị Hải Y, khối lượng dây điện cả hai cùng trộm khi cân là 49 (Bốn mươi chín) kg, bán với giá 23.000 đồng/ 01kg, số dây điện bán được số tiền 1.127.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Q gặp Đ tại ngã ba đường đi Trung tâm y tế huyện Bảo Lạc, Q đưa cho Đ số tiền 500.000 đồng, Q lấy hết số tiền còn lại.
Quá trình điều tra, ông Nguyễn Thanh T - Giám đốc công ty TNHH TKT Cao Bằng trình bày: Công ty TNHH TKT Cao Bằng là đơn vị thi công công trình cải tạo, chống quá tải, giảm tiêu thụ điện năng tại trạm biến áp Xuân Trường II thuộc địa phận xóm BC, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Theo Hợp đồng thi công xây dựng công trình số: 242/HĐXL/PCCB ngày 08/12/2021 Công ty điện lực Cao Bằng và Công ty TNHH TKT Cao Bằng). Tháng 4 năm 2022, tại điểm thi công công trình của công ty do anh Nguyễn Văn N là công nhân phụ trách giám sát, phát hiện bị kẻ gian lấy trộm khoảng 200m dây cáp điện nhôm vặn xoắn đã trình báo cơ quan Công an. Quá trình điều tra ông đồng ý với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá và yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tài sản các bị cáo đã trộm cắp, đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Hải Y trình bày: Khoảng 06 giờ sáng ngày 28/4/2022, có một người đàn ông khoảng 35 tuổi, chở 01 (Một) bao tải bên trong đựng nhiều đoạn dây cáp điện nhôm đã cắt thành từng đoạn nhỏ có độ dài khác nhau đến của hàng thu mua sắt vụn của bà để bán. Tổng số dây điện có khối lượng là 27kg (Hai mươi bảy kilogram), bà thu mua với giá 23.000 đồng/01kg. Bà mua tất cả số dây điện trên với số tiền là 620.000 đồng. Bà không biết nguồn gốc số dây điện trên là do trộm cắp mà có.. Ngoài lần mua dây điện vào ngày 28/4/2022, bà không nhớ là đã mua lần nào khác với người đàn ông này vì mỗi ngày lượng khách hàng vào bán sắt vụn cho bà rất nhiều nên bà không thể nhớ hết. Hiện nay 27kg (Hai mươi bảy kilogram) dây điện nhôm vặn xoắn đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Bà yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 620.000 đồng mà bà đã mua số dây điện trên.
Quá trình điều tra người làm chứng Lãnh Văn D trình bày: D không có họ hàng gì với bị cáo Hoàng Văn Q. Chiếc xe máy TIALING màu hồng, Biển kiểm soát 11F2 - 2382 là của D mua tại một cửa hàng xe máy cũ tại thành phố CB với giá 3.200.000 đồng, có giấy tờ đầy đủ, D mua để làm phương tiện đi lại. Các ngày 27/4/2022, 28/4/2022 D cho bị cáo Q mượn xe máy, Q có nói với D là mượn xe máy để đi lại và đưa người thân đi lại. D không biết việc Q dùng xe máy để thực hiện hành vi phạm tội.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc đã tiến hành lập biên bản về việc quy đổi từ khối lượng sang chiều dài đối với các đoạn dây điện cáp nhôm vặn xoắn số hiệu (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4x95 đã bị các bị cáo cắt trộm. Kết quả quy đổi các lần do Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên như sau:
- 19 kg (Mười chín kilogam) dây cáp điện nhôm vặn xoắn số hiệu (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4 x 95 quy đổi sang chiều dài tương ứng với 60,8 mét.
- 07 kg (Bảy kilogam) dây cáp điện nhôm vặn xoắn số hiệu (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4 x 95 quy đổi sang chiều dài tương ứng với 22,4 mét.
- 49 kg (Bốn mươi chín kilogam) dây cáp điện nhôm vặn xoắn số hiệu (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4 x 95 quy đổi sang chiều dài tương ứng với 156,9 mét.
Ngày 03/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, Cao Bằng yêu cầu định tài sản gửi Hội đồng định giá tài sản huyện Bảo Lạc. Tại bản kết luận định giá số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá xác định trị giá tài sản bị trộm cắp như sau:
- 60,8 mét dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4 x95 do Lãnh Văn Đ thực hiện hành vi trộm cắp, xảy ra vào ngày 26/4/2022 có trị giá là: 7.493.174 đồng;
- 22,4 mét dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4x95 do Hoàng Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp, xảy ra vào ngày 27/4/2022 có trị giá là: 2.760.643 đồng;
- 156,9 mét dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUNWON) 0.6/1kv AL/XLPE:4x95 do Lãnh Văn Đ và Hoàng Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp, xảy ra vào ngày 28/4/2022 có trị giá là: 19.336.826 đồng.
Vào các ngày 26, 27, 28 tháng 4 năm 2022, Lãnh Văn Đ và Hoàng Văn Q đã cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng số 240,1m (Hai trăm bốn mươi phẩy một mét) dây cáp điện có trị giá là 29.536.643 đồng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn TKT Cao Bằng. Địa chỉ: Tổ N, phường ĐT, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng tại công trường đang thi công lưới điện giảm tải Trạm biến áp Xuân Trường II tại xóm BC, xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng.
Đối với Hoàng Văn Q biết Lãnh Văn Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện vào ngày 26/4/2022 nhưng vẫn giúp Đ mang tài sản đi tiêu thụ rồi cùng nhau chia tiền.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT - VKSBL ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên xử bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị khung hình phạt từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", đề nghị khung hình phạt từ 06 (Sáu) đến 08 (Tám) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội với khung hình phạt từ 13 (Mười ba) đến 20 (Hai mươi) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên xử bị cáo Lãnh Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị khung hình phạt từ 18 (Mười tám) đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 587; 589 Bộ luật dân sự. Buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc kìm cắt bằng kim loại, vỏ cao su màu vàng, đen, chiều dài 20cm của Hoàng Văn Q (kìm đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao kim loại (loại lưỡi sắc) một đầu cong, phần kim loại dài 44cm, phần lưỡi dài 32cm, bản rộng 4,5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm của Lãnh Văn Đ (dao cũ, đã qua sử dụng); 01 (Một) chiếc kìm bằng kim loại, vỏ bằng nhựa màu vàng, đen, chiều dài 20cm, phần tay cầm dài 13cm của Lãnh Văn Đ (kìm cũ, đã qua sử dụng); 27 (Hai mươi bảy) kg dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUMWON) 0.6/1kvAL/XLPE: 4 x 95.
- Tịch thu phát mại, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Intel màu đỏ, có số IMEI1: 358625108895303; IMEI2: 358625108895311 của Lãnh Văn Đ (điện thoại cũ, đã qua sử dụng).
Các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, thừa nhận hành vi phạm tội. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi, bảo vệ, quản lý tài sản của người được giao trông giữ tài sản, các bị cáo đã cùng thực hiện hành vi trộm cắp tổng số 240,1m dây cáp điện của Công ty TNHH TKT Cao Bằng có trị giá 29.536.643 đồng.
Đối với Hoàng Văn Q biết Lãnh Văn Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện vào ngày 26/4/2022 nhưng vẫn giúp Đ mang tài sản đi tiêu thụ rồi cùng nhau chia tiền.
Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tải sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, an toàn trật tự xã hội ở địa phương.
Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015.
"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
" Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."
Như vậy hành vi của các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi tiêu thụ tài sản do Lãnh Văn Đ trộm cắp ngày 26/4/2022 của Hoàng Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Đỗ Thị Hải Y là chủ cơ sở thu mua phế liệu, khi nhận mua số dây cáp điện, Y không biết tài sản này do trộm cắp mà có. Do vậy, không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với Y.
Đối với Lãnh Văn D là người đã cho Q mượn xe máy biển kiểm soát 11F2-2382, xe có đủ giấy tờ, nguồn gốc bản thân D cho Q mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết Q sử dụng xe máy để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với D.
Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ đều sinh ra và lớn lên tại xã XT, huyện BL, tỉnh Cao Bằng. Các bị cáo là người có sức khỏe, đang trong độ tuổi lao động, được sống trong môi trường xã hội lành mạnh, đều đã có gia đình riêng có vợ con, đủ khả năng nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đều phải chịu tình tiết tặng nặng "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2018 bị cáo Lãnh Văn Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Đã chấp hành xong bản án, được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều là người sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra Công ty TNHH TKT Cao Bằng yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại là 240.1 m dây cáp điện được định giá có trị giá là 29.536.643 đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều nhất trí với kết luận định giá tài sản về trị giá tài sản, thừa nhận thiệt hại là do các bị cáo cùng gây ra và xác định cùng có trách nhiệm ngang nhau trong việc bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy, mức yêu cầu bồi thường nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra là phù hợp với thực tế, được các bị cáo thừa nhận do đó cần buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (Một) Chiếc kìm cắt bằng kim loại, vỏ cao su màu vàng, đen, chiều dài 20cm của Hoàng Văn Q (kìm đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao kim loại (loại lưỡi sắc) một đầu cong, phần kim loại dài 44cm, phần lưỡi dài 32cm, bản rộng 4,5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm của Lãnh Văn Đ (dao cũ, đã qua sử dụng); 01 (Một) chiếc kìm bằng kim loại, vỏ bằng nhựa màu vàng, đen, chiều dài 20cm, phần tay cầm dài 13cm của Lãnh Văn Đ (kìm cũ, đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xét cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số vật chứng 27 (Hai mươi bảy) kg dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUMWON) 0.6/1kvAL/XLPE: 4 x 95 đã bị cắt rời không còn giá trị sử dụng xét cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Intel màu đỏ, có số IMEI1: 358625108895303; IMEI2: 358625108895311 của Lãnh Văn Đoàn (điện thoại cũ, đã qua sử dụng) là phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội xét cần tịch thu phát mại, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; 06 (Sáu) tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lãnh Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lãnh Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam 17/6/2022.
2. Về trách nhiêm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584; 585; 587 và 589 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn TKT Cao Bằng, địa chỉ: Tổ N, phường ĐT, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng một khoản tiền là 29.536.643 đồng. Trong đó, Hoàng Văn Q phải bồi thường số tiền 14.768.000 đồng, Lãnh Văn Đ phải bồi thường số tiền 14.768.000 đồng.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Hải Y, tạm trú tại Tổ dân phố N, thị trấn BL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng một khoản tiền là 620.000 đồng. Trong đó, Hoàng Văn Q phải bồi thường số tiền 310.000 đồng, Lãnh Văn Đ phải bồi thường số tiền 310.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với từng khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh do chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 257 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc kìm cắt bằng kim loại, vỏ cao su màu vàng, đen, chiều dài 20cm của Hoàng Văn Q (kìm đã qua sử dụng); 01 (Một) con dao kim loại (loại lưỡi sắc) một đầu cong, phần kim loại dài 44cm, phần lưỡi dài 32cm, bản rộng 4,5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm của Lãnh Văn Đ (dao cũ, đã qua sử dụng); 01 (Một) chiếc kìm bằng kim loại, vỏ bằng nhựa màu vàng, đen, chiều dài 20cm, phần tay cầm dài 13cm của Lãnh Văn Đ (kìm cũ, đã qua sử dụng); 27 (Hai mươi bảy) kg dây cáp điện nhôm vặn xoắn (SUMWON) 0.6/1kvAL/XLPE: 4 x 95 đã bị cắt rời.
- Tịch thu phát mại, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu Intel màu đỏ, có số IMEI1: 358625108895303; IMEI2: 358625108895311 của Lãnh Văn Đ (điện thoại cũ, đã qua sử dụng).
Toàn bộ vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01 ngày 05/10/2022.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Hoàng Văn Q và Lãnh Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền (14.768.000 đồng + 310.000 đồng = 15.078.000 đồng) x 5% = 753.900 đồng nộp ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; Nhà tạm giữ; - Sở Tư pháp; - UBND xã Xuân Trường; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doanh Thị Mây |