vanban.org

Bản án 48/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 20/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Trọng X cho UBND xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 48/2022/HS-PT
Ngày: 20/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nghiêm Thị Lượng

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hữu Hòa.

2. Ông Đinh X Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Ngô X Quý - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 84/2022/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Trọng X do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 119/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn T- Sinh năm 1969; HKTT: Khu T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1945 và bà Lê Thị T, sinh năm 1945; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là thứ 2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 20/11/1990 bị TAND tỉnh Hà Bắc xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”; ngày 13/10/1997 bị TAND tỉnh Bắc Ninh phạt 6 năm tù và 20 triệu đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 năm tù và 20.000.000đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của cả 2 tội là 14 năm tù và 40.000.000đ. Ngoài ra bị cáo bị quản chế 2 năm kể từ khi mãn hạn tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 22/6/2011 và ngày 25/01/2021 được đình chỉ thi hành đối với số tiền phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/10/2021 đến nay; có mặt.

2. Phạm Trọng X- Sinh năm 1987, HKTT: Thôn P, xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1960; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là thứ 3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/8/2021 đến nay; có mặt.

Ngoài ra trong vụ án này còn có 04 bị cáo không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T2 và Phạm Trọng X do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên ngày 27/4/2021 T2 và X có điện thoại với nhau và hẹn nhau đến khu vực Trung tâm văn hóa Kinh Bắc (thuộc phường Vũ Ninh, Thành phố B) nói chuyện. Hẹn xong, khoảng 18 giờ cùng ngày Trần Văn T2 và bạn của T2 là Vũ Trung T3, sinh năm 1988 có HKTT: Khu P, phường V, thành phố B; Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 có HKTT: Khu C, phường V, Thành phố B và Hoàng Văn C, sinh năm 1999 có HKTT: Thôn 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đi xe ô tô nhãn hiệu Kia Moning, BKS: 29A-985.65 đến chỗ hẹn (xe do Vũ Trung T3 điều khiển, nguồn gốc xe là của ông Vũ Văn N là bố đẻ T3 cho T3 mượn sử dụng). Khi đến khu vực Trung tâm văn hóa Kinh Bắc và Chung cư Royalpark thuộc đường Luy Lâu, phường Vũ Ninh, Thành phố B, T2 nhìn thấy Phạm Trọng X và Nguyễn Văn P, sinh năm 1997 có HKTT: Thôn 9, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè của bà Tống Thị N1, sinh năm 1969 là người xóm Thượng, khu T, phường V. T2 bảo T3 dừng xe, sau đó cả nhóm xuống xe. T3 đi trước, đi sau T3 là C tiếp đến là T2 và H (lúc này X và P đang ngồi tại bàn uống nước phía bên trong, còn bàn phía bên ngoài có bạn của X là Vũ Đình T4, sinh năm 1976 trú tại: Khu T, phường V, Thành phố B và Nguyễn Văn T, sinh năm 1969, trú tại Đ, T, Bắc Ninh ngồi). Khi thấy nhóm của T2 đi vào thì X và P đứng dậy, lúc này T3 đi qua một bàn uống nước của quán lên T3 với tay cầm 01 chiếc ghế nhựa, T2 rút ở túi quần ra 01 cây gậy rút bằng kim loại màu đen dài khoảng 60cm rồi từ phía sau xông về phía X. C và H đi bộ phía sau. Thấy T2 cầm gậy lao đến X và P cũng cầm ghế nhựa của quán giơ lên rồi xông về phía T2 và T3. T2 cầm gậy rút bằng kim loại vụt, X giơ ghế đỡ và bị trúng vào tay. Thấy T3 đi đến, X và P cầm ghế nhựa vụt về phía T3, T3 giơ ghế đỡ rồi bỏ chạy. X và P tiếp tục cầm ghế nhựa đuổi theo T2, T2 bỏ chạy, vừa chạy vừa dùng gậy vụt trở lại nhóm của X. C dùng ghế nhựa lao vào vụt về phía nhóm của X. X, P tiếp tục cầm ghế nhựa vụt T2 và C. H thấy vậy lao vào can ngăn nhưng bị một người cầm điếu cày (H không nhớ là ai) vụt về phía H, thì H cầm bàn nhựa ném về phía người này đồng thời bỏ chạy. Khi T2, X, P xô sát đến bàn uống nước của T4 và T, thì T4 cầm một cốc thủy tinh đang dùng uống nước trên bàn ném về nhóm của T2. T cầm 01 điếu cày cùng X, P đuổi theo T2, C, H ra đường Luy Lâu. Bị duổi đánh nên C, H bỏ chạy ra phía sau Trung tâm văn hóa Kinh Bắc, T2 chạy ra phía đường Kinh Dương Vương. Lúc này X không cầm theo đồ vật gì, P cầm theo 01 ghế nhựa màu đỏ, T cầm theo 01 điếu cày đuổi theo T2. Khi đuổi kịp T2 thì X ôm T2, T cầm điếu vụt 02 cái vào người T2 và vứt điếu cày ra đường, đồng thời dung tay đấm T2 nhiều cái vào người, rồi X, P ôm ghì T2, còn T giằng gậy sắt của T2. Thấy thế C cầm ghế nhựa xông về phía nhóm của X thì P nhặt điếu cày ở dưới đường lên đuổi theo C vụt nhiều cái vào người C, C bỏ chạy thì P dừng lại. T cầm gậy sắt vừa giằng được và đuổi theo T2 một đoạn trên đường Luy Lâu về hướng đường Kinh Dương Vương thì quay lại. T3 thấy T2 bị nhóm của của X đánh thì T3 chạy ra xe ô tô BKS 29A- 985.65 mở cửa xe và lên xe định rời đi thì T4 cầm một hòn gạch giơ lên, tay trái mở cửa xe bên lái chỗ T3 ngồi không cho rời đi. Sau đó T cầm gậy sắt, P cầm điếu cày và X cầm điếu cày quay lại xe ô tô giữ T3 lại. Quá trình xô sát diễn ra khoảng 3 phút sau đó lực lượng Công an phường Vũ Ninh đến đưa các đối tượng về trụ sở làm việc

Vật chứng thu giữ: Vũ Đình T4 giao nộp 01 gậy sắt 3 khúc bằng kim loại màu đen, cán quấn cao su dài 60cm; Phạm Trọng X giao nộp điếu cày bằng tre được quấn băng dính màu đen và tại hiện trường lực lượng Công an còn thu giữ 01 điếu cày bằng tre quấn băng dính màu đen dài 70cm bị dập. Tiến hành kiểm tra xe ô tô BKS 29A- 985.65 thu tại mép bên pH ghế lái sát cần phanh tay có 01 túi vải nhỏ màu vàng, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng trong túi có 10 viên nén màu đỏ; 04 túi nilon màu trắng trong mỗi túi có chứa 01 viên nén màu đỏ cùng các hạt tinh thể màu trắng; 08 túi nilon màu trắng, trong mỗi túi chứa 02 viên nén màu đỏ và các hạt chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra cơ quan điều tra còn tiến hành thu giữ 01 đoạn Video ghi lại nội dung sự việc từ Sở thông tin và truyền thông tỉnh Bắc Ninh.

Sau khi sự việc xảy ra Phạm Trọng X có đơn tố cáo hành vi gây thương tích của các đối tượng đến cơ quan điều tra, tại giấy chứng nhận thương tích số: 156 ngày 13/5/2021 của Viện Quân y 110 xác định: X nhập viện trong tình trạng 01 vết thương rách da vùng trán đỉnh bên trái dài khoảng 4cm đã khâu, xây sát vùng khuỷu tay hai bên và gối trái

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 68 ngày 02/6/2021 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế Bắc Ninh kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của X là 6% cơ chế tác động vết thương do ngoại lực, bởi vật tày.

Đối với thương tích của X, quá trình điều tra xác định T2 có dùng gậy vụt vào tay X, ngoài ra chưa xác định được cụ thể thương tích của X do ai gây lên, ngày 01/12/2021 X có đơn xin rút đơn tố cáo về hành vi gây thương tích đối với mình.

Tại Kết luận giám định số: 374A ngày 30/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong bì thư gửi giám định có khối lượng 1.5253gam không phải là chất ma túy, Các viên nén màu đỏ trong bì thư gửi giám định có khối lượng 2,6361gam không phải chất ma túy.

Khi xô sát đánh nhau P, C, T, T2 và anh T3 đều bị thương, tuy nhiên quá trình điều tra P, C, T2, T và anh T3 đều từ chối giám định tỷ lệ thương tích và anh T3 cũng có đơn đề nghị từ chối giám định tỷ lệ thương tích.

Quá trình xô sát đánh nhau giữa các đối tượng tại quán nước của bà Tống Thị N1 làm hư hỏng 5 ghế nhựa loại ghế tựa cao 40cm, 04 bàn nhựa cao 50cm, 10 cốc thủy tinh đã qua sử dụng. Tại kết luận định giá tài sản trong tố tung hình sự số: 236 ngày 02/6/2021 của Hội đồng định giá Thành phố B kết luận: 05 ghế nhựa loại ghế tựa cao 40cm, 05 bàn nhựa cao 50cm, 10 cốc thủy tinh đã qua sử dụng có tổng giá trị 580.000đ. Sau khi sự việc xảy ra T4 và P đã nói chuyện và bồi thường, hỗ trợ cho bà Nhiên toàn bộ thiệt hại về tài sản và bà Nhiên không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2022/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Trọng X phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 BLHS, xử phạt:

- Nguyễn Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Phạm Trọng X 28 (hai tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo còn lại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/6/2022 và ngày 09/6/2022, các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Trọng X kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo T trình bày nguyên nhân bị cáo đuổi đánh T2 là do bị cáo thấy X là bạn mình bị đánh chảy máu đầu nên có can ngăn, bị cáo không cố ý. Hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mẹ già yếu thường xuyên đi viện, bố bị cáo có Huân chương kháng chiến hạng ba, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc bố mẹ già.

Bị cáo X trình bày: Trước khi xảy ra vụ việc, bị cáo và T2 không quen biết nhau. Tối 27/4/2021, bị cáo đang ngồi uống nước với P thì T2 và mấy người xông đến đánh X và P. T2 dùng gậy rút vụt bị cáo vào tay, ngoài ra còn bị thương vào đầu chảy máu, thương tích là 6%. Bị cáo có cầm ghế nhựa của quán nước tự vệ lại. Bản án cấp sơ thẩm phạt bị cáo 28 tháng tù là quá nặng. Bị cáo có nhân thân tốt, T3 khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm, bị cáo có công cứu giúp người bị tai nạn giao thông đưa đi viện cấp cứu; tham gia ủng hộ quỹ phòng chống Covis ở địa phương và đã nộp án phí HSST. Bị cáo đã nhận thấy sai lầm vì vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Do bị cáo T có nhân thân xấu, tham gia tích cực, vì vậy đề nghị HĐXX bác của các bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đối với bị cáo X có nhân thân tốt, có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển 28 tháng tù sang cho hưởng án treo.

Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, chỉ đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định và hợp lệ, nên

được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo T và X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT, tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người làm chứng, các vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18h ngày 27/4/2021 tại quán bán nước vỉa hè của bà Tống Thị N1 tại đường Luy Lâu, phường Vũ Ninh, Thành phố B do T2 và X có mâu thuẫn từ trước, nên khi gặp nhau nhóm của T2 và nhóm của X đã xảy ra xô sát. Quá trình xô sát các bị cáo đã sử dụng gậy rút bằng kim loại, ghế nhựa, bàn nhựa, cốc thủy tinh, điếu cày tại quán làm hung khí để đuổi đánh và truy đuổi nhau. Cụ thể T2 sử dụng gậy rút kim loại mang theo vụt X trước. Sau đó các đối tượng gồm C cầm ghế nhựa, P và X sử dụng ghế nhựa và điếu cày bằng tre, T sử dụng điếu cày, T4 sử dụng cốc thủy tinh có sẵn tại quán để vụt, ném nhau và truy đuổi nhau gây náo loạn, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu vực công cộng. Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Trọng X phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX nhận thấy:

- Đối với bị cáo T: Mặc dù nguyên nhân xảy ra vụ việc không phát sinh từ bị cáo, tuy nhiên sau đó bị cáo đã tham gia tích cực, cầm điếu cày vụt T2 và dùng tay đấm T2; khi nhóm T2 bỏ chạy T cùng với X, P đuổi theo. Bị cáo có nhân thân xấu, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về các tội rất nghiêm trọng, nay bị cáo lại phạm vào tội nghiêm trọng. Vì vậy, mặc dù bị cáo có xuất trình bố bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 nhưng đây chỉ là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.

Đối với bị cáo X: Bị cáo là người bị T2 dùng gậy rút bằng kim loại đánh trước nên có hành vi dùng ghế nhựa đánh lại, trong qúa trình sô sát bị cáo bị thương tích 6%. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là cứu giúp người bị tai nạn, tích cực ủng hộ quỹ phòng chống Covis, nộp án phí, vì vậy bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo X chưa có tiền án, tiền sự; nhất thời phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, 2 Điều 51; có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy cần mở lượng khoan hồng, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng để giáo dục T3 người lương thiện.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo X không phải chịu án phí HSPT.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trọng X, sửa một phần Bản án sơ thẩm.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Trọng X 28 (Hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 56 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Trọng X cho UBND xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phạm Trọng X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm (Xác nhận bị cáo X đã nộp 200.000đ án phí HSST theo Biên lai thu tiền số 0000956 ngày 29/6/2022 của Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

T3 VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh X Tuấn Nguyễn Hữu Hòa

Nghiêm Thị Lượng

Cỡ chữ