- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vu ly hon Nh-G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ng.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST Ngày:29-7-2022 V/v ”Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lệ Hoa
Bà Trần Thị Hằng Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà, Thư ký Tòa của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh L
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, thụ lý số 43/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ng. Th. T. Nh
Sinh năm: 1978
Địa chỉ: 73 Ấp B xã T huyện Th tỉnh L.
- Bị đơn: Ông Ng. V. G
Sinh năm: 1958
Địa chỉ: 139 Đường R Phường B thành phố T tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Ng. Th. T. Nh trình bày: Do người thân giới thiệu, bà và ông G quen biết, tìm hiểu nhau trong ba năm. Đến năm 2010, bà và ông G kết hôn. Chung sống hạnh phúc được khoảng hai năm thì bà phát hiện ông G có quan hệ với không chỉ một mà nhiều người phụ nữ khác và thêm vào đó là việc ông G lâm vào tình cảnh mắc nợ, phải bán nhà. Vì lúc đó, con chung còn nhỏ nên bà đã đưa con về sống chung với mẹ ruột. Từ năm 2012 đến nay, bà và ông G không gặp nhau, không liên lạc gì. Thậm chí, con chung không biết mặt cha. Vợ chồng không có bất cứ liên hệ nào trong vòng mười năm qua. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng. V. G.
Về con chung, bà và ông G có một người con chung, tên là Ng. P. K, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011. Con chung hiện tại đang sống cùng bà. Bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng uôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Ng. V. G đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng không tham gia tố tụng. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng.
Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết các vấn đề khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà Ng. Th. T. Nh và ông Ng. V. G là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do ông G có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác. Thời gian đầu, bà Nh đã cố gắng chịu đựng vì con nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà và ông G không những không cải thiện mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà Nh không thể chung sống cùng ông G nên đã đưa con về sống cùng cha mẹ ruột của bà từ năm 2012. Tình cảm vợ chồng không còn, thời gian vợ chồng không sống cùng đã lâu và không thể kéo dài tình trạng hôn nhân hiện tại, bà Ng. Th. T. Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng. V. G. Theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý và giải quyết vụ án.
Ông Ng. V. G đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng; Bà Ng. Th. T. Nh yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh L đã lập Biên bản về không kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được và Biên bản không tiến hành hòa giải được vào ngày 04 tháng 7 năm 2022. Ông G cũng không tham gia phiên tòa ngày 20 tháng 7 năm 2022 và phiên tòa ngày 29 tháng 7 năm 2022; Bà Ng. Th. T. Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố T xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nh và ông G xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2010, nên áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000) để giải quyết về nội dung, theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình.
Ông Ng. V. G vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, thể hiện thái độ bỏ mặc hậu quả. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông G và bà Nh không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ng. Th. T. Nh theo quy định tại Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000).
Về con chung, bà Nh và ông G có một người con chung, tên là Ng. P. K, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011, bà Nh có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu này của bà Nh phù hợp với quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung, thể hiện tại Biên bản ghi ý kiến con chung vào ngày 22 tháng 3 năm 2022. Hơn nữa, ông Ng. V. G không tham gia tố tụng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của bà Nh. Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ông Ng. V. G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, do không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Bà Ng. Th. T. Nh phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 238, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ng. Th. T. Nh đối với ông Ng. V. G.
Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Ng. Th. T. Nh là người trực tiếp nuôi con chung, tên là Ng. P. K, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011; Ông Ng. V. G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Ng. V. G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông G thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định
Về án phí: Bà Ng. Th. T. Nh chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Nh đã nộp (theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001373 ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T tỉnh L) thành án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ng. Th. T. Nh, bị đơn Ng. V. G đều vắng mặt tại phiên tòa, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp -Chi cục thi hành án dân sự -Các đương sự -Lưu: VT, hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thảo |