vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Mộng Thùy D.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Mộng Thùy D và anh Danh T. Về con chung: Giao 02 cháu Danh Thị Thảo N (giới tính: nữ), sinh ngày 20/12/2007 và Danh Thị Kiều T (giới tính: nữ), sinh ngày 03/9/2010 cho chị Đỗ Mộng Thùy D được quyền nuôi dưỡng. Chị Đỗ Mộng Thùy D không yêu cầu anh Danh T cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đỗ Mộng Thùy D yêu cầu ly hôn với anh Danh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Mộng Thùy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 7 – 2022
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thừa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Út

2. Ông Nguyễn Văn Thơi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Mộng Thùy D; cư trú tại: Ấp HB, xã NV, huyện BT, tỉnh V.

- Bị đơn: Anh Danh T; cư trú tại: Ấp N, xã P, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Mộng Thùy D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Danh T tự nguyện kết hôn năm 2007, đến năm 2012 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên thường xuyên cự cãi dẫn đến đời sống chung không hạnh phúc. Chị cũng đã tạo điều kiện để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành, chị và anh Danh T không còn sống chung với nhau từ năm 2017 đến nay. Vì vậy, chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh T.

Về con chung: Chị và anh Danh T có 02 con chung là Danh Thị Thảo N (giới tính: nữ), sinh ngày 20/12/2007 và Danh Thị Kiều T (giới tính: nữ), sinh ngày 03/9/2010; hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Danh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

. Chị Đỗ Mộng Thùy D và anh Danh T tự nguyện kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

. Đối với bị đơn anh Danh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đỗ Mộng Thùy D và anh Danh T tự nguyện kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên chị Thùy D yêu cầu được ly hôn với anh Danh T.

Chị Thùy D xác định do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên giữa anh chị thường hay cự cãi dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hai bên đã tìm cách hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành, hiện tình cảm vợ chồng không còn và không thể sống chung với nhau được nữa. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, qua kết quả xác minh nguyên nhân mâu thuẫn, có cơ sở kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Thùy D và anh Danh T thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng chị Thùy D và anh Danh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thùy D; cho ly hôn giữa chị Thùy D và anh Danh T.

. Về con chung: Chị Thùy D và anh Danh T có 02 con chung là Danh Thị Thảo N (giới tính: nữ), sinh ngày 20/12/2007 và Danh Thị Kiều T (giới tính: nữ), sinh ngày 03/9/2010; hiện 02 con đang sống chung với chị Thùy D. Khi ly hôn chị Thùy D yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh Danh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị Thùy D và anh Danh T không còn chung sống đến nay thì 02 cháu Thảo N và Kiều T do chị Thùy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; để đảm bảo lợi ích, sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý của trẻ; Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 cháu Danh Thị Thảo N và Danh Thị Kiều T cho chị Thùy D nuôi dưỡng. Chị Thùy D không yêu cầu anh Danh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi về việc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Thùy D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Đỗ Mộng Thùy D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Mộng Thùy D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Mộng Thùy D và anh Danh T.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Danh Thị Thảo N (giới tính: nữ), sinh ngày 20/12/2007 và Danh Thị Kiều T (giới tính: nữ), sinh ngày 03/9/2010 cho chị Đỗ Mộng Thùy D được quyền nuôi dưỡng. Chị Đỗ Mộng Thùy D không yêu cầu anh Danh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Danh T có quyền, nghĩa vụ, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Mộng Thùy D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Đỗ Mộng Thùy D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Đỗ Mộng Thùy D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006302 lập ngày 19/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ