vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Tấn T.

Về quan hệ hôn nhân: cho anh Trần Tấn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị L. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 03 - 2022
V/v tranh chấp “Xin ly hôn,
Nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi

2. Ông Đặng Văn Núi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông không tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 03 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp“Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trần Tấn T - Sinh năm: 1986 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm 1, Thị trấn T, huyện C, tỉnh V;

2. Bị đơn: Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1993 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh G;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Tấn T trình bày:

Anh và chị L tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới, đăng ký kết hôn ngày 09/03/2012 tại UBND xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên cãi nhau, chị L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2019 thì trầm trọng nên đã sống ly thân. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Trần Tấn L, sinh ngày 06/6/2010; Trần Ngọc B, sinh ngày 30/01/2012. Hiện cháu L và cháu B đang sống với anh, anh yêu cầu nuôi hai con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh xác định không có.

Về nợ chung: anh xác định không có.

* Quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng chị L không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải và tham dự phiên tòa, cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh T về việc xin ly hôn, nuôi con chung; Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: anh T và chị L có quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/03/2012 nên quan hệ hôn nhân của anh T và chị L là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Tại phiên tòa, anh T, chị L đều vắng mặt, nhưng lời khai của anh T cho rằng sau khi kết hôn vợ, chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau, chị L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2019 thì trầm trọng nên đã sống ly thân, nên anh đề nghị xin ly hôn. Đối với chị L, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng chị không đến Tòa để trình bày ý kiến. Điều đó, cho thấy chị L không quan tâm, không tha thiết đến cuộc hôn nhân với anh T. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: anh T trình bày anh chị có 02 con chung tên Trần Tấn L, sinh ngày 06/6/2010; Trần Ngọc B, sinh ngày 30/01/2012. Hiện cháu L và cháu B đang do anh T trực tiếp nuôi, Xét thấy cháu L và cháu B đang do anh T trực tiếp nuôi và có nguyện vọng được sống với cha; chị L chưa có ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu L và cháu B cho anh T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: anh T trình bày anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Tấn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Trần Tấn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.

2. Về nuôi con chung:

- Giao con chung Trần Tấn L, sinh ngày 06/6/2010; Trần Ngọc B, sinh ngày 30/01/2012 cho anh Trần Tấn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Chị L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T và các thành viên trong gia đình anh T không được ngăn cản.

3. Về án phí: Anh T phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008055 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông. Anh T đã nộp xong án phí.

Anh T, chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ